Hội thơ diễn ra đúng hẹn tại phòng Chính Nhã của Hứa phủ. Trước đại sảnh đặt một bức bình phong sáu cánh vẽ Hạc kêu ở đầm sâu, phía đông đặt một cái đồng hồ nước bằng đồng. Hứa Trật đứng trước bình phong, thấy đã đến giờ, bèn ra hiệu cho Ký Minh đứng ở bên cạnh mở cuộn giấy đang cầm.
Bốn chữ lớn “ngọc trắng hoàn hảo” chính là đề thơ của hội thơ lần này.
Đề thơ vừa được công bố, mọi người tụ tập trong sảnh đều nhìn nhau, tiếng bàn tán khe khẽ nổi lên không dứt.
Có người là người đầu tiên lên tiếng hỏi Hứa Trật, chính là nhi tử Tả Mẫn của Tả đại phu: “Ngọc trắng hoàn hảo... có tích truyện xưa gì chăng?” Hắn am hiểu thơ ca, không biết vị tài tử số một thành Hàm đã gửi gắm dụng ý gì trong đề thơ này.
Lời vừa dứt, trong đám đông bỗng vang lên một tiếng cười đột ngột.
Mọi người đồng loạt đưa mắt nhìn về phía phát ra tiếng cười, tìm người vừa cười.
Dưới bao ánh mắt đổ dồn, người vừa bật cười lúc này lại có phần lúng túng, đẩy đồng bạn đứng cạnh một cái, khiến người kia lùi về sau nửa bước.
Tả Mẫn nhíu mày: “Tại sao các hạ lại cười?” Người khác đang nói chuyện, người này lại vô cớ bật cười, thật là vô lễ.
“Ha...” Nụ cười của người này trở nên gượng gạo, đáp một câu qua loa: “Ta chỉ cản thấy... đề này rất hay, đề này rất hay...”
“Tại hạ cũng cho rằng đề này rất hay!” Không ngờ cái cớ nghĩ vội trong lúc cấp bách lại có người phụ họa, hắn ta nhận ra người lên tiếng phụ họa, chính là Diễn công tử. Phụ thân của Diễn công tử là đường huynh của Tần vương, từng cùng Thái Thả chủ trì việc đào kênh, được phong làm Thủy Thiên quân.
Diễn công tử tiếp lời: “Tinh hoa của núi sông, mặt trăng và mặt trời tụ thành ngọc. Xưa có Biện Hòa dâng ngọc thô, sau khi mài giũa thành Hoà Thị Bích*, nghiêng nhìn thì màu xanh biếc, nhìn thẳng thì màu trắng ngần. Không chút tì vết, là bảo vật tối thượng. Ngọc lại là vật tượng trưng cho bậc quân tử, ấm áp lại tinh khiết, sửa mình để trở nên hoàn hảo...”
Tả Mẫn cắt ngang lời dài dòng của Tần Diễn: “Diễn công tử nói năng lưu loát như vậy, chẳng lẽ đã có thơ rồi?”
Tần Diễn chắp tay hành lễ, khiêm tốn kính cẩn: “Tại hạ bất tài, kính mong các vị chỉ giáo.”
***
Nghe đồn nhi tử thứ của Thủy Thiên quân là Diễn, tài văn xuất chúng, chỉ vì sống xa thành Hàm nên danh tiếng không quá vang dội. Hôm nay mới thật sự hiểu thế nào là tài hoa tuyệt thế.
Đề thơ vừa công bố chưa đầy nửa nén hương, có lẽ hắn ta vừa nhìn thấy đề đã sẵn thơ trong lòng, nên ngâm một bài thơ bốn chữ. Mượn chuyện xửa Hòa Thị Bích, lấy tinh hoa ánh trăng để ví ngọc trắng hoàn hảo, dùng ngọc tượng trưng cho phẩm chất của bậc quân tử. Bố cục mở, nối, chuyển, kết đều uyển chuyển và linh động.
Doanh Âm Mạn đứng sau bức bình phong hình con hạc đỏ, nghe xong cũng không khỏi sinh lòng khen ngợi. Nàng lén liếc người ra đề đang ngồi tùy ý ở bên cạnh, chỉ thấy Hứa Trật cũng mỉm cười gật đầu rồi đứng dậy rời khỏi bằng cửa sau.
Lần này, e rằng không còn ai có tài văn vượt được Tần Diễn nữa, nên cũng không còn hứng thú nghe tiếp.
Thấy vậy, Doanh Âm Mạn cũng lặng lẽ rời đi theo đó. Trước khi đi, nàng còn ngoái đầu nhìn lại một lần, tuy ngăn cách bởi bức bình phong, thật ra chẳng nhìn thấy gì.
Hứa Trật thật nên cảm tạ Diễn công tử, đã giúp hắn tránh được không ít phiền toái. Tần Diễn đứng đầu, giành được phần thưởng, sẽ không có ai dị nghị.
Những người còn lại tham gia buổi tụ hội cũng đều hiểu, bài thơ này của Diễn công tử quả thực không tầm thường, nên chẳng còn lòng tranh hơn thua nữa. Họ chỉ lưu lại vài nét bút, coi như đã từng đến tham gia.
Khi hội thơ kết thúc, Hứa Trật sai người dẫn mọi người đến sau vườn, cất lời: “Hoa quế đầu thu thơm ngào ngạt, trong phủ có một vườn quế, lại chuẩn bị sẵn rượu quế cất giữ nhiều năm, mong các vị không chê, dời bước đến thưởng thức.”
Đợi mọi người rời đi, Hứa Trật dặn Ký Minh thu dọn tất cả bản thảo này. Phàm là có chữ, đều cất cẩn thận, mang về thư phòng của hắn, chờ hắn trở lại sẽ lần lượt chỉnh lại.
“Vậy còn những tờ có tranh thì sao ạ?” Ký Minh hỏi.
“Tranh?”
Ký Minh lật ra một tờ giấy đưa cho Hứa Trật xem: “Người này, vẽ một cây phủ việt.”
Phủ việt là binh khí tượng trưng cho quyết đoán. Từ thời thượng cổ, khi tạo chữ theo phép tượng hình, người ta lấy đó để biểu thị quyền lực cao nhất.
Hứa Trật giật mình, trên tờ giấy không hề có một chữ nào, chỉ có một nét vẽ nguệch ngoạc hình cái rìu lớn. Hắn vội hỏi: “Đây là do ai vẽ?”
“Người vừa nãy ngồi ở chỗ kia.” Ký Minh chỉ vào nơi mình nhặt tờ giấy, nghĩ ngợi một lúc rồi đáp: “Hình như là Vãng vông tử.”
Vị trí đó, chính là chỗ người vừa mới bật cười, Tần Vãng.
***
Hứa Trật nắm chặt tờ giấy trắng vẽ hình phủ việt, vội vàng đi về phía vườn hoa quế, vừa hay đụng mặt một người đang dạo chơi trong vườn.
Người đó chính là nam nhân hôm trước đuổi theo tên trộm trên đường Yên.
Hứa Trật nhận ra hắn ta, trong lòng cảm thán đúng là có duyên ngàn dặm cũng gặp, chắp tay hành lễ: “Không ngờ lại gặp các hạ.”
“Hứa... Tuần Chi.” Mấy ngày nay hắn ta ngày nào cũng nghe nhắc đến tên Hứa Trật, chắc hẳn không nhớ nhầm.
Nhưng Hứa Trật lại không biết họ tên của đối phương là gì, cảm thấy thất lễ: “Các hạ là...”
“Tần Trưng.” Tần Trung đáp rất dứt khoát.
Hoá ra là con cháu của hoàng tộc Tần quốc.
Hứa Trật giật mình, cung kính gọi: “Chinh công tử.”
“Đây đã là lần thứ ba chúng ta tình cờ gặp nhau rồi, đúng là trùng hợp.”
“Lần thứ ba?” Hứa Trật lại không hề có ấn tượng.
Một kẻ vô danh vốn chẳng ai để tâm như hắn, Tần Trưng xua tay, không nói thêm, chỉ hỏi: “Sao ngươi vội vàng thế?”
Hứa Trật mỉm cười: “Tại hạ nhặt được một món đồ bên chỗ ngồi của Vãng công tử, tại hạ đang định mang đi hỏi xem có phải của Vãng công tử không.”
“À, A Vãng à, hắn ta đang ở bên trong uống rượu, ngươi vào là thấy...” Tần Trưng đang định chỉ đường cho Hứa Trật, chợt nhớ đây vốn là nhà Hứa Trật, hôm nay mọi việc đều do Hứa Trật sắp xếp, bèn ngượng ngùng thu tay lại.
“Đa tạ công tử.” Dù vậy, Hứa Trật vẫn lịch sự cảm tạ Tần Trưng đã chỉ đường, rồi đi về phía yến tiệc.
Tần Trưng khoanh tay, nhìn theo bóng lưng Hứa Trật, cảm thấy người này quả thật có chút thú vị.
Hứa Trật chắc chắn là người có phong thái tao nhã và khuôn phép đoan chính, dù là hôm đó nhận lệnh tại yến tiệc, hay chủ trì hội văn vào lần này, hắn đều nắm giữ chừng mực rất tốt. Hứa Trật còn nhỏ tuổi hơn hắn một chút, trong số mọi người cũng chẳng tính là lớn tuổi, thế mà một tay lo liệu và chủ trì hội văn hôm nay, không hề tỏ ra lúng túng chút nào, cũng không kiêu ngạo vì được Tần vương khen ngợi tài danh, hiểu rõ bản thân không phải nhân vật chính nên biết tiến biết lùi, đưa ra đánh giá công bằng về thơ của mỗi người. Chỉ riêng điểm này cũng đủ thấy tài danh của Hứa Trật tuyệt đối không phải là đồn sao hay vậy, thật sự là bậc quân tử khiêm tốn, dịu dàng như ngọc.
Một bậc quân tử khiêm hòa như vậy, cũng có lúc thất thố. Hôm đó, Hứa Trật kéo Dương Tư công chúa đi, mặt đen như than.
Tần Trưng nhún vai, tiếp tục dạo quanh.
Chẳng biết đã đi đến nơi nào, mùi quế ngào ngạt ngút trời dần nhạt đi, trước mắt hiện ra một cây phù dung màu hồng nhạt.
Một cô nương đứng dưới gốc cây, tiện tay hái một đóa phù dung nở rộ, đưa lên mũi khẽ ngửi. Nghe tiếng vạt áo lướt qua cỏ lá, nàng ngoảnh đầu nhìn, thì thấy một nam nhân mặc y phục chỉnh tề, thế là nàng mỉm cười với hắn.
Châu ngọc cài trên tóc nàng phản chiếu ánh mặt trời chói chang khiến Tần Trưng phải nheo mắt. Đợi khi hắn định thần nhìn lại, thì chỉ còn một bóng lưng yểu điệu.
Y phục nàng mặc màu thu hương nhạt, hoa phù dung bên cạnh rực rỡ như gấm vóc, vậy mà vẫn không sánh nổi sắc màu nụ cười đó của nàng.
“Thành Hàm...” Tần Trưng nhìn cây phù dung đã không còn bóng người, một hồi lâu mới nói: “Quả nhiên là chốn danh đô.”
Danh đô nhiều nữ nhân quyến rũ, kinh thành lắm thiếu niên.
Chương bảy: Người chẳng phải điều ta mong nhớ
Tần Trưng dạo gần hết khu vườn, cuối cùng cũng tìm được một thủy đình tương đối yên tĩnh. Hắn ngồi phịch xuống, gác hai chân lên, tựa vào cột rồi nằm xuống.
Mới nhắm mắt nghỉ ngơi được chốc lát, đã nghe có người gọi tên mình: “A Trưng, ta tìm ngươi nửa ngày rồi, sao lại chạy đến đây?”
Tần Trưng hé mở một mắt, thấy là Tần Vãng, lại nhắm vào, thuận miệng đáp: “Hoa quế trong vườn thơm quá, ngửi đến đau cả đầu.”
Tần Vãng ngồi xuống cạnh Tần Trưng, cười trêu: “Ta thấy là ồn đến đau đầu thì đúng hơn.”
Tần Vãng cảm thấy thái độ của Tần Trưng đối với công tử Diễn khá lạnh nhạt. Công tử Diễn vốn là người hào sảng rộng rãi, từ trước đến nay bên cạnh luôn có kẻ trước người sau vây quanh, vậy mà Tần Trưng rất ít qua lại với hắn. Lần này công tử Diễn đoạt ngôi đầu, ai nấy đều hết lời tán thưởng, chen chúc một chỗ đàm văn luận thơ. Ban nãy Tần Vãng cũng đang góp vui, vừa quay đầu đã chẳng thấy Tần Trưng đâu nữa.
Nói Tần Trưng không thích náo nhiệt thì không đúng, mấy ngày đến thành Hàm, hắn gần như chẳng lúc nào rảnh, đi dạo khắp đông tây nam bắc. Nói hắn ghét Diễn công tử thì cũng không hẳn.
Chỉ là Tần Trưng không thích nghe họ tâng bốc, rồi ngồi tán gẫu ba hoa.
Tần Trưng nhún vai, không tiếp lời, ngược lại hỏi: “Vừa rồi Hứa Tuần Chi có đến tìm ngươi không?”
“Hắn tìm ta làm gì?” Tần Vãng ngơ ngác.
Lời vừa dứt, Tần Trưng mở mắt nhìn Tần Vãng, chợt nhớ tới câu trả lời của Hứa Trật, lúc này mới muộn màng nhận ra đó rõ ràng chỉ là lời lấp liếm. Nếu Hứa Trật vốn không biết có phải Tần Vãng làm rơi đồ hay không, thì tại sao lại nói mập mờ như vậy, cũng chẳng hỏi thử có phải người khác hay không. Người ngồi cạnh Tần Vãng có cả một đống, hắn cũng ngồi cạnh Tần Vãng mà.
Người thành Hàm, đều thích nói chuyện úp mở như vậy sao, không thấy mệt à?
Tần Trưng lắc đầu cười.
Tần Vãng đứng ở bên cạnh chẳng hiểu gì, chỉ thấy Tần Trưng cười thì nhớ tới chuyện ở hội thơ ban nãy, nên chất vấn: “Ta còn chưa hỏi ngươi đây. Lúc đó ngươi cười cái gì? Cười xong còn không dám nhận, lại trốn sau lưng ta, để ta gánh tiếng oan thay ngươi.”
Tần Trưng ra vẻ vô tội: “Người ngu còn không tự biết mình ngu, sao lại trách người khác cười hắn ta được?”
“Lời này là sao? Người đó dù gì cũng là nhi tử của Tả đại phu, cũng có chút tài năng mà.”
Chút tài năng này của hắn ta, đứng ở trước Diễn công tử và Hứa Trật thì thật sự chẳng đáng nhắc tới. Huống chi ngu cũng có nhiều kiểu.
“Làm gì có ai đi hỏi người ra đề...” Tần Trưng thâý từ ngữ không thích hợp lắm, có lẽ Hứa Trật không phải người ra đề, bèn đổi lời: “Làm gì có ai đi hỏi người đánh giá về tích xưa của đề bài? Chỉ riêng câu hỏi này thôi, hắn ta đã tự hạ mình xuống một bậc rồi.”
Lời này vừa nói ra, Tần Vãng lập tức hiểu.
Bọn họ đều quá tùy ý, vì nghĩ mọi người đều cùng trang lứa nên không thực sự coi Hứa Trật là chủ trì của hội văn, mà thật ra Hứa Trật mới là người được đích thân Tần vương chỉ định.
Tần Vãng trầm ngâm một lúc, rồi nhỏ giọng hỏi Tần Trưng: “Ngươi nói xem, có phải hội thơ lần này là để Tần vương thử thách Hứa Trật không, ai cũng nói hắn là nhân tài phò tá Vua.” Đôi khi họ cũng từng nghĩ, vì sao Tần vương lại giao cho Hứa Trật chủ trì hội thơ này, nhưng hôm nay lại chẳng thấy Tần vương xuất hiện.
“Phò tá Vua?” Tần Trưng khẽ cười, nhướng mày: “Phò tá vị Vua nào?”
“Đương nhiên là Tần vương.”
“Đợi đến khi Hứa Trật trưởng thành, thì vị Tần vương hiện giờ cũng đã già rồi.” Tần Trưng nói như vậy, nhưng Tần Vãng dường như vẫn chưa hiểu.
Tần Trưng vỗ vai Tần Vãng, đứng dậy rời đi.
Những ẩn ý trong đề thơ, tất cả những điều này, không hiểu thì thôi. Vốn dĩ những chuyện này cũng chẳng liên quan gì đến hai người họ, mà hắn cũng không có hứng thú với những thứ này.
Chỉ cần đợi kỳ săn bắn kết thúc, hắn có thể lên biên ải, tòng quân.
***
Đều là con cháu tông hoàng thất, nhưng xuất thân của Tần Trưng kém xa Vãng công tử, càng không thể sánh với Diễn công tử. Đuổi theo năm đời, mới miễn cưỡng có chút quan hệ với dòng chính của Tần vương.
Tổ tiên năm đời của Tần Trưng là đệ đệ cùng mẫu thân của Tần Hiếu vương, cũng là vị công tử cuối cùng của Tần quốc được phong tước nhờ huyết thống. Kể từ sau khi Tần Hiếu vương tiến hành biến pháp, người không có công lao thì không được phong tước.
Năm đời đã qua, gia phả cũng không biết đã phân thành bao nhiêu nhánh, huống chi còn là vương thất. Lại vì tổ tiên không có công trạng gì nổi bật, nhánh của Tần Trưng ngày càng sa sút, chỉ còn được coi là một chi vẫn còn lưu dấu trên tông phả, sống ở Thai Châu.
Chiếu lệnh triệu kiến của Tần vương vốn chẳng liên quan gì đến nhà Tần Trưng. Tần Trưng tình cờ nghe được tin này từ chỗ Thân Tham tiên sinh, liền nảy ra ý, thêm mắm dặm muối kể lại cho phụ thân nghe.
Lúc đó phụ thân đang lâm bệnh, không thể đến thành Hàm, Tần Trưng lập tức chủ động xin đi giết giặc thay cho phụ thân, cũng coi như không thất lễ.
Sự sốt sắng như thế, tất cả đều vì muốn lấy được sổ hộ tịch của mình.
Lúc nhỏ Tần Trưng từng theo Thân Tham tiên sinh chu du khắp nơi, từ lâu đã muốn tòng quân. Nhưng hắn là nhi tử độc nhất trong nhà, phụ mẫu không đồng ý, giữ hộ tịch của hắn còn kỹ hơn bất cứ thứ gì. Biết mình không thể thuyết phục được phụ mẫu, hắn không nhắc đến chuyện này nữa, để họ buông lỏng cảnh giác, chờ đợi thời cơ.
Lần này, chính là cơ hội.
Phụ thân không nghĩ nhiều, chỉ cho rằng Tần Trưng muốn đến thành Hàm, nên thuận theo ý hắn, đồng thời nhờ Thân Tham tiên sinh đi cùng để bảo vệ.
Thân Tham tiên sinh thuở trẻ là một hiệp khách, hết lòng tin theo Pháp gia*. Năm đó, khi đi ngang qua Thai Châu, ông ấy không may bị ngã bị thương nặng, được phụ thân của Tần Trưng cứu giúp. Phụ thân Tần Trưng rất khâm phục tài năng của Thân Tham, bèn mời ông ấy làm thầy dạy cho nhi tử mới bốn tuổi trong nhà. Một lần này, chính là mười hai năm.
*Một phái thời Tiên Trần
Thân tiên sinh còn sảng khoái hơn phụ thân rất nhiều, cũng dễ nói chuyện hơn phụ thân nhiều, nhưng tuyệt đối sẽ không tự ý đồng ý cho Tần Trưng đi lích khi chưa được phụ thân hắn chấp thuận. Bởi vậy, ngay cả với Thân tiên sinh, Tần Trưng cũng giữ kín như bưng, vô cùng bình tĩnh.
Một buổi sớm, khi đang tạm trú tại dịch quán, Tần Trưng đang luyện kiếm trong đình, thế kiếm hiên ngang. Thân Tham vác hành lý từ trong phòng bước ra, vẫy tay gọi hắn.
Tần Trưng tra kiếm vào vỏ, bước đến trước mặt Thân Tham, hành lễ vấn an, thấy ông ấy ăn mặc như vậy thì tò mò hỏi: “Sư phụ định đi đâu vậy?”
“Ta có vài vị bằng hữu ở thành Hàm, họ mời ta đến chỗ họ ở vài ngày. Dù sao con đi săn thì ta cũng không thể theo cùng, nên tiện thể đến thăm họ luôn.” Thân Tham hết lần này đến lần khác dặn dò: “Lúc ta không ở bên cạnh, mỗi ngày con phải nhớ luyện kiếm, đọc sách, không được lười biếng. Khi đi săn, nhất định phải chú ý an toàn, tuyệt đối không được hiếu thắng, ham tranh đấu mà gây rắc rối...”
“Đệ tử đã rõ.” Tần Trưng vừa theo Thân Tham ra đến cửa chính, vừa liên tục gật đầu.
Bóng dáng Thân Tham dần khuất khỏi tầm mắt, Tần Trưng còn đứng ở cửa thêm một lúc, rồi quay người, nhanh như chớp lẻn vào phòng của Thân Tham.
Hắn nhớ lần trước vô tình liếc thấy sư phụ cất ở đây.
Lục trái tìm phải, cuối cùng công sức cũng không uổng, hắn tìm được một cái hộp. Mở ra, chính là thứ hắn đang tìm.
Sổ hộ tịch, cuối cùng cũng để hắn chạm tới.
Đang thầm mừng, thì phía sau bỗng vang lên một tiếng gọi: “A Trưng!”
Bốn chữ lớn “ngọc trắng hoàn hảo” chính là đề thơ của hội thơ lần này.
Đề thơ vừa được công bố, mọi người tụ tập trong sảnh đều nhìn nhau, tiếng bàn tán khe khẽ nổi lên không dứt.
Có người là người đầu tiên lên tiếng hỏi Hứa Trật, chính là nhi tử Tả Mẫn của Tả đại phu: “Ngọc trắng hoàn hảo... có tích truyện xưa gì chăng?” Hắn am hiểu thơ ca, không biết vị tài tử số một thành Hàm đã gửi gắm dụng ý gì trong đề thơ này.
Lời vừa dứt, trong đám đông bỗng vang lên một tiếng cười đột ngột.
Mọi người đồng loạt đưa mắt nhìn về phía phát ra tiếng cười, tìm người vừa cười.
Dưới bao ánh mắt đổ dồn, người vừa bật cười lúc này lại có phần lúng túng, đẩy đồng bạn đứng cạnh một cái, khiến người kia lùi về sau nửa bước.
Tả Mẫn nhíu mày: “Tại sao các hạ lại cười?” Người khác đang nói chuyện, người này lại vô cớ bật cười, thật là vô lễ.
“Ha...” Nụ cười của người này trở nên gượng gạo, đáp một câu qua loa: “Ta chỉ cản thấy... đề này rất hay, đề này rất hay...”
“Tại hạ cũng cho rằng đề này rất hay!” Không ngờ cái cớ nghĩ vội trong lúc cấp bách lại có người phụ họa, hắn ta nhận ra người lên tiếng phụ họa, chính là Diễn công tử. Phụ thân của Diễn công tử là đường huynh của Tần vương, từng cùng Thái Thả chủ trì việc đào kênh, được phong làm Thủy Thiên quân.
Diễn công tử tiếp lời: “Tinh hoa của núi sông, mặt trăng và mặt trời tụ thành ngọc. Xưa có Biện Hòa dâng ngọc thô, sau khi mài giũa thành Hoà Thị Bích*, nghiêng nhìn thì màu xanh biếc, nhìn thẳng thì màu trắng ngần. Không chút tì vết, là bảo vật tối thượng. Ngọc lại là vật tượng trưng cho bậc quân tử, ấm áp lại tinh khiết, sửa mình để trở nên hoàn hảo...”
Tả Mẫn cắt ngang lời dài dòng của Tần Diễn: “Diễn công tử nói năng lưu loát như vậy, chẳng lẽ đã có thơ rồi?”
Tần Diễn chắp tay hành lễ, khiêm tốn kính cẩn: “Tại hạ bất tài, kính mong các vị chỉ giáo.”
***
Nghe đồn nhi tử thứ của Thủy Thiên quân là Diễn, tài văn xuất chúng, chỉ vì sống xa thành Hàm nên danh tiếng không quá vang dội. Hôm nay mới thật sự hiểu thế nào là tài hoa tuyệt thế.
Đề thơ vừa công bố chưa đầy nửa nén hương, có lẽ hắn ta vừa nhìn thấy đề đã sẵn thơ trong lòng, nên ngâm một bài thơ bốn chữ. Mượn chuyện xửa Hòa Thị Bích, lấy tinh hoa ánh trăng để ví ngọc trắng hoàn hảo, dùng ngọc tượng trưng cho phẩm chất của bậc quân tử. Bố cục mở, nối, chuyển, kết đều uyển chuyển và linh động.
Doanh Âm Mạn đứng sau bức bình phong hình con hạc đỏ, nghe xong cũng không khỏi sinh lòng khen ngợi. Nàng lén liếc người ra đề đang ngồi tùy ý ở bên cạnh, chỉ thấy Hứa Trật cũng mỉm cười gật đầu rồi đứng dậy rời khỏi bằng cửa sau.
Lần này, e rằng không còn ai có tài văn vượt được Tần Diễn nữa, nên cũng không còn hứng thú nghe tiếp.
Thấy vậy, Doanh Âm Mạn cũng lặng lẽ rời đi theo đó. Trước khi đi, nàng còn ngoái đầu nhìn lại một lần, tuy ngăn cách bởi bức bình phong, thật ra chẳng nhìn thấy gì.
Hứa Trật thật nên cảm tạ Diễn công tử, đã giúp hắn tránh được không ít phiền toái. Tần Diễn đứng đầu, giành được phần thưởng, sẽ không có ai dị nghị.
Những người còn lại tham gia buổi tụ hội cũng đều hiểu, bài thơ này của Diễn công tử quả thực không tầm thường, nên chẳng còn lòng tranh hơn thua nữa. Họ chỉ lưu lại vài nét bút, coi như đã từng đến tham gia.
Khi hội thơ kết thúc, Hứa Trật sai người dẫn mọi người đến sau vườn, cất lời: “Hoa quế đầu thu thơm ngào ngạt, trong phủ có một vườn quế, lại chuẩn bị sẵn rượu quế cất giữ nhiều năm, mong các vị không chê, dời bước đến thưởng thức.”
Đợi mọi người rời đi, Hứa Trật dặn Ký Minh thu dọn tất cả bản thảo này. Phàm là có chữ, đều cất cẩn thận, mang về thư phòng của hắn, chờ hắn trở lại sẽ lần lượt chỉnh lại.
“Vậy còn những tờ có tranh thì sao ạ?” Ký Minh hỏi.
“Tranh?”
Ký Minh lật ra một tờ giấy đưa cho Hứa Trật xem: “Người này, vẽ một cây phủ việt.”
Phủ việt là binh khí tượng trưng cho quyết đoán. Từ thời thượng cổ, khi tạo chữ theo phép tượng hình, người ta lấy đó để biểu thị quyền lực cao nhất.
Hứa Trật giật mình, trên tờ giấy không hề có một chữ nào, chỉ có một nét vẽ nguệch ngoạc hình cái rìu lớn. Hắn vội hỏi: “Đây là do ai vẽ?”
“Người vừa nãy ngồi ở chỗ kia.” Ký Minh chỉ vào nơi mình nhặt tờ giấy, nghĩ ngợi một lúc rồi đáp: “Hình như là Vãng vông tử.”
Vị trí đó, chính là chỗ người vừa mới bật cười, Tần Vãng.
***
Hứa Trật nắm chặt tờ giấy trắng vẽ hình phủ việt, vội vàng đi về phía vườn hoa quế, vừa hay đụng mặt một người đang dạo chơi trong vườn.
Người đó chính là nam nhân hôm trước đuổi theo tên trộm trên đường Yên.
Hứa Trật nhận ra hắn ta, trong lòng cảm thán đúng là có duyên ngàn dặm cũng gặp, chắp tay hành lễ: “Không ngờ lại gặp các hạ.”
“Hứa... Tuần Chi.” Mấy ngày nay hắn ta ngày nào cũng nghe nhắc đến tên Hứa Trật, chắc hẳn không nhớ nhầm.
Nhưng Hứa Trật lại không biết họ tên của đối phương là gì, cảm thấy thất lễ: “Các hạ là...”
“Tần Trưng.” Tần Trung đáp rất dứt khoát.
Hoá ra là con cháu của hoàng tộc Tần quốc.
Hứa Trật giật mình, cung kính gọi: “Chinh công tử.”
“Đây đã là lần thứ ba chúng ta tình cờ gặp nhau rồi, đúng là trùng hợp.”
“Lần thứ ba?” Hứa Trật lại không hề có ấn tượng.
Một kẻ vô danh vốn chẳng ai để tâm như hắn, Tần Trưng xua tay, không nói thêm, chỉ hỏi: “Sao ngươi vội vàng thế?”
Hứa Trật mỉm cười: “Tại hạ nhặt được một món đồ bên chỗ ngồi của Vãng công tử, tại hạ đang định mang đi hỏi xem có phải của Vãng công tử không.”
“À, A Vãng à, hắn ta đang ở bên trong uống rượu, ngươi vào là thấy...” Tần Trưng đang định chỉ đường cho Hứa Trật, chợt nhớ đây vốn là nhà Hứa Trật, hôm nay mọi việc đều do Hứa Trật sắp xếp, bèn ngượng ngùng thu tay lại.
“Đa tạ công tử.” Dù vậy, Hứa Trật vẫn lịch sự cảm tạ Tần Trưng đã chỉ đường, rồi đi về phía yến tiệc.
Tần Trưng khoanh tay, nhìn theo bóng lưng Hứa Trật, cảm thấy người này quả thật có chút thú vị.
Hứa Trật chắc chắn là người có phong thái tao nhã và khuôn phép đoan chính, dù là hôm đó nhận lệnh tại yến tiệc, hay chủ trì hội văn vào lần này, hắn đều nắm giữ chừng mực rất tốt. Hứa Trật còn nhỏ tuổi hơn hắn một chút, trong số mọi người cũng chẳng tính là lớn tuổi, thế mà một tay lo liệu và chủ trì hội văn hôm nay, không hề tỏ ra lúng túng chút nào, cũng không kiêu ngạo vì được Tần vương khen ngợi tài danh, hiểu rõ bản thân không phải nhân vật chính nên biết tiến biết lùi, đưa ra đánh giá công bằng về thơ của mỗi người. Chỉ riêng điểm này cũng đủ thấy tài danh của Hứa Trật tuyệt đối không phải là đồn sao hay vậy, thật sự là bậc quân tử khiêm tốn, dịu dàng như ngọc.
Một bậc quân tử khiêm hòa như vậy, cũng có lúc thất thố. Hôm đó, Hứa Trật kéo Dương Tư công chúa đi, mặt đen như than.
Tần Trưng nhún vai, tiếp tục dạo quanh.
Chẳng biết đã đi đến nơi nào, mùi quế ngào ngạt ngút trời dần nhạt đi, trước mắt hiện ra một cây phù dung màu hồng nhạt.
Một cô nương đứng dưới gốc cây, tiện tay hái một đóa phù dung nở rộ, đưa lên mũi khẽ ngửi. Nghe tiếng vạt áo lướt qua cỏ lá, nàng ngoảnh đầu nhìn, thì thấy một nam nhân mặc y phục chỉnh tề, thế là nàng mỉm cười với hắn.
Châu ngọc cài trên tóc nàng phản chiếu ánh mặt trời chói chang khiến Tần Trưng phải nheo mắt. Đợi khi hắn định thần nhìn lại, thì chỉ còn một bóng lưng yểu điệu.
Y phục nàng mặc màu thu hương nhạt, hoa phù dung bên cạnh rực rỡ như gấm vóc, vậy mà vẫn không sánh nổi sắc màu nụ cười đó của nàng.
“Thành Hàm...” Tần Trưng nhìn cây phù dung đã không còn bóng người, một hồi lâu mới nói: “Quả nhiên là chốn danh đô.”
Danh đô nhiều nữ nhân quyến rũ, kinh thành lắm thiếu niên.
Chương bảy: Người chẳng phải điều ta mong nhớ
Tần Trưng dạo gần hết khu vườn, cuối cùng cũng tìm được một thủy đình tương đối yên tĩnh. Hắn ngồi phịch xuống, gác hai chân lên, tựa vào cột rồi nằm xuống.
Mới nhắm mắt nghỉ ngơi được chốc lát, đã nghe có người gọi tên mình: “A Trưng, ta tìm ngươi nửa ngày rồi, sao lại chạy đến đây?”
Tần Trưng hé mở một mắt, thấy là Tần Vãng, lại nhắm vào, thuận miệng đáp: “Hoa quế trong vườn thơm quá, ngửi đến đau cả đầu.”
Tần Vãng ngồi xuống cạnh Tần Trưng, cười trêu: “Ta thấy là ồn đến đau đầu thì đúng hơn.”
Tần Vãng cảm thấy thái độ của Tần Trưng đối với công tử Diễn khá lạnh nhạt. Công tử Diễn vốn là người hào sảng rộng rãi, từ trước đến nay bên cạnh luôn có kẻ trước người sau vây quanh, vậy mà Tần Trưng rất ít qua lại với hắn. Lần này công tử Diễn đoạt ngôi đầu, ai nấy đều hết lời tán thưởng, chen chúc một chỗ đàm văn luận thơ. Ban nãy Tần Vãng cũng đang góp vui, vừa quay đầu đã chẳng thấy Tần Trưng đâu nữa.
Nói Tần Trưng không thích náo nhiệt thì không đúng, mấy ngày đến thành Hàm, hắn gần như chẳng lúc nào rảnh, đi dạo khắp đông tây nam bắc. Nói hắn ghét Diễn công tử thì cũng không hẳn.
Chỉ là Tần Trưng không thích nghe họ tâng bốc, rồi ngồi tán gẫu ba hoa.
Tần Trưng nhún vai, không tiếp lời, ngược lại hỏi: “Vừa rồi Hứa Tuần Chi có đến tìm ngươi không?”
“Hắn tìm ta làm gì?” Tần Vãng ngơ ngác.
Lời vừa dứt, Tần Trưng mở mắt nhìn Tần Vãng, chợt nhớ tới câu trả lời của Hứa Trật, lúc này mới muộn màng nhận ra đó rõ ràng chỉ là lời lấp liếm. Nếu Hứa Trật vốn không biết có phải Tần Vãng làm rơi đồ hay không, thì tại sao lại nói mập mờ như vậy, cũng chẳng hỏi thử có phải người khác hay không. Người ngồi cạnh Tần Vãng có cả một đống, hắn cũng ngồi cạnh Tần Vãng mà.
Người thành Hàm, đều thích nói chuyện úp mở như vậy sao, không thấy mệt à?
Tần Trưng lắc đầu cười.
Tần Vãng đứng ở bên cạnh chẳng hiểu gì, chỉ thấy Tần Trưng cười thì nhớ tới chuyện ở hội thơ ban nãy, nên chất vấn: “Ta còn chưa hỏi ngươi đây. Lúc đó ngươi cười cái gì? Cười xong còn không dám nhận, lại trốn sau lưng ta, để ta gánh tiếng oan thay ngươi.”
Tần Trưng ra vẻ vô tội: “Người ngu còn không tự biết mình ngu, sao lại trách người khác cười hắn ta được?”
“Lời này là sao? Người đó dù gì cũng là nhi tử của Tả đại phu, cũng có chút tài năng mà.”
Chút tài năng này của hắn ta, đứng ở trước Diễn công tử và Hứa Trật thì thật sự chẳng đáng nhắc tới. Huống chi ngu cũng có nhiều kiểu.
“Làm gì có ai đi hỏi người ra đề...” Tần Trưng thâý từ ngữ không thích hợp lắm, có lẽ Hứa Trật không phải người ra đề, bèn đổi lời: “Làm gì có ai đi hỏi người đánh giá về tích xưa của đề bài? Chỉ riêng câu hỏi này thôi, hắn ta đã tự hạ mình xuống một bậc rồi.”
Lời này vừa nói ra, Tần Vãng lập tức hiểu.
Bọn họ đều quá tùy ý, vì nghĩ mọi người đều cùng trang lứa nên không thực sự coi Hứa Trật là chủ trì của hội văn, mà thật ra Hứa Trật mới là người được đích thân Tần vương chỉ định.
Tần Vãng trầm ngâm một lúc, rồi nhỏ giọng hỏi Tần Trưng: “Ngươi nói xem, có phải hội thơ lần này là để Tần vương thử thách Hứa Trật không, ai cũng nói hắn là nhân tài phò tá Vua.” Đôi khi họ cũng từng nghĩ, vì sao Tần vương lại giao cho Hứa Trật chủ trì hội thơ này, nhưng hôm nay lại chẳng thấy Tần vương xuất hiện.
“Phò tá Vua?” Tần Trưng khẽ cười, nhướng mày: “Phò tá vị Vua nào?”
“Đương nhiên là Tần vương.”
“Đợi đến khi Hứa Trật trưởng thành, thì vị Tần vương hiện giờ cũng đã già rồi.” Tần Trưng nói như vậy, nhưng Tần Vãng dường như vẫn chưa hiểu.
Tần Trưng vỗ vai Tần Vãng, đứng dậy rời đi.
Những ẩn ý trong đề thơ, tất cả những điều này, không hiểu thì thôi. Vốn dĩ những chuyện này cũng chẳng liên quan gì đến hai người họ, mà hắn cũng không có hứng thú với những thứ này.
Chỉ cần đợi kỳ săn bắn kết thúc, hắn có thể lên biên ải, tòng quân.
***
Đều là con cháu tông hoàng thất, nhưng xuất thân của Tần Trưng kém xa Vãng công tử, càng không thể sánh với Diễn công tử. Đuổi theo năm đời, mới miễn cưỡng có chút quan hệ với dòng chính của Tần vương.
Tổ tiên năm đời của Tần Trưng là đệ đệ cùng mẫu thân của Tần Hiếu vương, cũng là vị công tử cuối cùng của Tần quốc được phong tước nhờ huyết thống. Kể từ sau khi Tần Hiếu vương tiến hành biến pháp, người không có công lao thì không được phong tước.
Năm đời đã qua, gia phả cũng không biết đã phân thành bao nhiêu nhánh, huống chi còn là vương thất. Lại vì tổ tiên không có công trạng gì nổi bật, nhánh của Tần Trưng ngày càng sa sút, chỉ còn được coi là một chi vẫn còn lưu dấu trên tông phả, sống ở Thai Châu.
Chiếu lệnh triệu kiến của Tần vương vốn chẳng liên quan gì đến nhà Tần Trưng. Tần Trưng tình cờ nghe được tin này từ chỗ Thân Tham tiên sinh, liền nảy ra ý, thêm mắm dặm muối kể lại cho phụ thân nghe.
Lúc đó phụ thân đang lâm bệnh, không thể đến thành Hàm, Tần Trưng lập tức chủ động xin đi giết giặc thay cho phụ thân, cũng coi như không thất lễ.
Sự sốt sắng như thế, tất cả đều vì muốn lấy được sổ hộ tịch của mình.
Lúc nhỏ Tần Trưng từng theo Thân Tham tiên sinh chu du khắp nơi, từ lâu đã muốn tòng quân. Nhưng hắn là nhi tử độc nhất trong nhà, phụ mẫu không đồng ý, giữ hộ tịch của hắn còn kỹ hơn bất cứ thứ gì. Biết mình không thể thuyết phục được phụ mẫu, hắn không nhắc đến chuyện này nữa, để họ buông lỏng cảnh giác, chờ đợi thời cơ.
Lần này, chính là cơ hội.
Phụ thân không nghĩ nhiều, chỉ cho rằng Tần Trưng muốn đến thành Hàm, nên thuận theo ý hắn, đồng thời nhờ Thân Tham tiên sinh đi cùng để bảo vệ.
Thân Tham tiên sinh thuở trẻ là một hiệp khách, hết lòng tin theo Pháp gia*. Năm đó, khi đi ngang qua Thai Châu, ông ấy không may bị ngã bị thương nặng, được phụ thân của Tần Trưng cứu giúp. Phụ thân Tần Trưng rất khâm phục tài năng của Thân Tham, bèn mời ông ấy làm thầy dạy cho nhi tử mới bốn tuổi trong nhà. Một lần này, chính là mười hai năm.
*Một phái thời Tiên Trần
Thân tiên sinh còn sảng khoái hơn phụ thân rất nhiều, cũng dễ nói chuyện hơn phụ thân nhiều, nhưng tuyệt đối sẽ không tự ý đồng ý cho Tần Trưng đi lích khi chưa được phụ thân hắn chấp thuận. Bởi vậy, ngay cả với Thân tiên sinh, Tần Trưng cũng giữ kín như bưng, vô cùng bình tĩnh.
Một buổi sớm, khi đang tạm trú tại dịch quán, Tần Trưng đang luyện kiếm trong đình, thế kiếm hiên ngang. Thân Tham vác hành lý từ trong phòng bước ra, vẫy tay gọi hắn.
Tần Trưng tra kiếm vào vỏ, bước đến trước mặt Thân Tham, hành lễ vấn an, thấy ông ấy ăn mặc như vậy thì tò mò hỏi: “Sư phụ định đi đâu vậy?”
“Ta có vài vị bằng hữu ở thành Hàm, họ mời ta đến chỗ họ ở vài ngày. Dù sao con đi săn thì ta cũng không thể theo cùng, nên tiện thể đến thăm họ luôn.” Thân Tham hết lần này đến lần khác dặn dò: “Lúc ta không ở bên cạnh, mỗi ngày con phải nhớ luyện kiếm, đọc sách, không được lười biếng. Khi đi săn, nhất định phải chú ý an toàn, tuyệt đối không được hiếu thắng, ham tranh đấu mà gây rắc rối...”
“Đệ tử đã rõ.” Tần Trưng vừa theo Thân Tham ra đến cửa chính, vừa liên tục gật đầu.
Bóng dáng Thân Tham dần khuất khỏi tầm mắt, Tần Trưng còn đứng ở cửa thêm một lúc, rồi quay người, nhanh như chớp lẻn vào phòng của Thân Tham.
Hắn nhớ lần trước vô tình liếc thấy sư phụ cất ở đây.
Lục trái tìm phải, cuối cùng công sức cũng không uổng, hắn tìm được một cái hộp. Mở ra, chính là thứ hắn đang tìm.
Sổ hộ tịch, cuối cùng cũng để hắn chạm tới.
Đang thầm mừng, thì phía sau bỗng vang lên một tiếng gọi: “A Trưng!”