Đôi phu thê đang trọ lại quán ăn nhỏ chính là mẫu thân và kế phụ của A Nguyên.
Hà tú tài đi vệ sinh, Lý thị ở trong phòng trải giường chiếu. Nghĩ đến nữ nhi, vành mắt bà bỗng chốc đỏ hoe.
Bà không thể nào ngờ được đứa con vốn ngoan ngoãn hiền lành như A Nguyên lại dám trộm tiền, bị phát hiện còn ra tay làm bị thương người kế phụ luôn đối xử với nó như con ruột.
Tuy Lý thị không muốn tin, nhưng sự thật rành rành ngay trước mắt.
Bà lờ mờ đoán được nữ nhi đã đến tìm cô mẫu, chỉ là trước đó bà chẳng dám đi tìm.
Hà thái thái khi biết A Nguyên trộm mất số tiền dành dụm cho con trai lên kinh ứng thí, lại còn làm bị thương đứa con trai tú tài bảo bối của bà ta, lập tức chỉ tận mặt Lý thị mà mắng nhiếc không tiếc lời, bảo bà không biết dạy con.
Bà ta còn tuyên bố khi bắt được nha đầu đó về sẽ đánh gãy chân nó, rồi bêu rếu cho cả làng biết nó là phường trộm cắp!
Nếu không nhờ phu quân Lý thị can ngăn lão thái thái, nói rằng chuyện này đồn ra ngoài chẳng vẻ vang gì, e là ảnh hưởng đến con đường khoa cử về sau, bà ta mới chịu thôi ý định rêu rao khắp làng trên xóm dưới.
Dẫu vậy, Hà thái thái vẫn vì tức giận mà rủa sả A Nguyên suốt cả đêm.
Nửa tháng trôi qua, nghĩ bụng cơn giận của bà ta chắc đã nguôi ngoai, Lý thị mới ướm hỏi phu quân xem ông ta có ý định đi tìm A Nguyên hay không.
Hà Dự chẳng mảy may lo lắng việc A Nguyên sẽ vạch trần sự thật, trong lòng ông ta vẫn luôn tơ tưởng đến đứa con riêng xinh đẹp của thê tử, thế nên ông ta quay lại an ủi Lý thị.
Ông ta bảo người làm sai có thể dạy bảo lại, chứ người mất đi là hết, thời buổi loạn lạc thế này, tốt nhất vẫn nên tìm A Nguyên về cho yên tâm.
Lý thị cảm động vô cùng, thầm cảm thán tuy phận mình hai lần đò nhưng lần sau lại tốt hơn lần trước. Lần tái giá này bà đã gặp được một người chồng biết lễ nghĩa, lại bao dung độ lượng.
Nửa đêm, trời lại đổ mưa. Cơn mưa đến nhanh và dữ dội nhưng cũng tạnh rất mau.
Sau cơn mưa, thời tiết vốn đã se lạnh lại càng thêm rét căm căm.
A Nguyên nằm co quắp trên chiếc ghế dài, chẳng có gì che thân, lạnh đến mức phải cuộn tròn người lại để sưởi ấm.
Trong cơn lạnh lẽo run rẩy, A Nguyên mơ thấy một giấc mơ.
Nàng mơ về năm phụ thân qua đời.
Ruộng vườn trong nhà đều bị các bá bá các thúc thúc trong họ chiếm sạch, họ còn muốn đuổi mẹ con nàng ra khỏi căn nhà đang ở.
Mẫu thân nàng khóc đến tê dại, cuối cùng chẳng còn nước mắt mà khóc nữa.
Bà dắt tay nàng tìm đến trấn Thanh Thủy.
Mẫu thân bảo nàng đứng chờ ngoài một cửa tiệm, nói là đi mua ít đồ rồi sẽ quay lại ngay.
A Nguyên lờ mờ hiểu rằng mẫu thân không muốn nuôi mình nữa, nhưng nàng không dám nói ra.
Đợi suốt hai canh giờ mà mẫu thân vẫn chẳng quay lại tìm nàng.
Nàng vừa khóc vừa lầm lũi đi bộ từ trên trấn về tận nhà.
Khi mẫu thân thấy nàng ở nhà, bà cũng vô cùng kinh ngạc.
Có lẽ bà không ngờ một đứa trẻ mới bảy tuổi lại có thể tự mình tìm được đường về nhà.
Mẫu thân cũng đỏ hoe mắt, hai mẫu tử ôm nhau khóc nức nở hồi lâu.
A Nguyên sợ mẫu thân lại bỏ rơi mình lần nữa, nên từ khi trở về, nàng chưa bao giờ dám hờn dỗi hay làm nũng nửa lời.
Gặp lại chuyện cũ trong mơ, A Nguyên thấy lạnh lẽo và khó chịu vô cùng, cảm giác đó y hệt như lúc bị bỏ lại nơi cửa tiệm năm nào.
Chỉ có một mình đơn độc, nỗi cô đơn và sợ hãi lại một lần nữa dâng trào trong lòng.
Trong cơn mê sảng, nàng khóc thút thít, miệng nghẹn ngào lẩm bẩm: "Mẫu thân, đừng bỏ rơi con..."
Giữa đêm khuya, ngoài vài tiếng chó sủa xa xăm và tiếng nước nhỏ giọt trên mái hiên, tiếng khóc nỉ non của A Nguyên bỗng trở nên rõ mồn một.
Hoắc Kình vốn là người ngủ rất nông.
Bao nhiêu năm ở trong quân ngũ hắn luôn phải giữ cảnh giác cao độ, dẫu nay đã giải ngũ nhưng thói quen ấy vẫn chẳng hề thay đổi.
Vì thế, khi tiếng khóc nhỏ như tiếng mèo kêu vọng vào phòng, Hoắc Kình lập tức tỉnh giấc.
Gã gối đầu lên cánh tay, trừng mắt nhìn lên trần nhà tối om.
Hoắc Kình cứ ngỡ nàng chỉ khóc một lát rồi thôi, nào ngờ tiếng khóc ấy cứ rấm rứt kéo dài suốt gần nửa canh giờ!
Nàng còn nói mớ gọi mẫu thân, lảm nhảm những lời mê sảng.
Thật là chẳng dứt ra được.
Hoắc Kình vốn có tính gắt ngủ, hắn bực bội đấm mạnh xuống giường một cái "rầm", âm thanh vang dội giữa đêm thanh vắng.
Tiếng động này phỏng chừng nhà hàng xóm cũng nghe thấy, vậy mà người ở phòng bên cạnh vẫn ngủ li bì, tiếng rấm rứt than vãn vẫn không dứt.
Người ở phòng bên vốn luôn sống trong lo sợ, nếu có tiếng động lớn chắc chắn phải tỉnh giấc mới đúng.
Hoắc Kình linh cảm có chuyện chẳng lành. Hắn lập tức ngồi dậy, thắp đèn dầu rồi cầm sang phòng bên cạnh.
Đứng ngoài cửa phòng đối diện, Hoắc Kình giơ tay gõ cửa.
Gõ mấy lượt mà người bên trong vẫn không có phản hồi. Nếu không phải ngủ quá say thì chắc chắn là đã ngất đi rồi.
Hoắc Kình nhất thời mủi lòng thu nhận một người, chẳng ngờ lại rước thêm một rắc rối về nhà.
Hắn định tông cửa bước vào, nhưng chợt nhớ ra cánh cửa này không có chốt trong, bèn thử đẩy nhẹ.
Chẳng biết do nữ tử này quá vô tư hay là tin tưởng hắn tuyệt đối mà sau cửa chẳng có vật gì chắn cả, hắn chỉ cần đẩy nhẹ là cửa đã mở toang.
Ban đầu Hoắc Kình nghĩ cho nàng một nơi trú chân đã là nhân từ lắm rồi, nhưng khi cầm đèn bước vào, thấy nàng co rúm đáng thương trên chiếc ghế dài, hắn lại thấy mình nên đưa cho nàng một tấm chăn mới phải.
Hoắc Kình bước tới hai bước, đưa tay lay vai nàng: "Tỉnh lại đi."
Người trên ghế vẫn không tỉnh. Khóe mắt nàng còn vương lệ, cơ thể run cầm cập, đôi môi mấp máy nói "lạnh quá".
Hoắc Kình áp mu bàn tay vào vầng trán lấm tấm mồ hôi của nàng, bấy giờ mới thấy nóng như hòn than.
Từ nhỏ Hoắc Kình đã nếm trải đủ cực khổ, mùa đông gió rét căm căm đi chân trần cũng chẳng thấy ốm đau gì. Không ngờ nữ tử này lại mỏng manh dễ vỡ đến thế.
Chỉ dính chút mưa, uống vài ngụm nước lạnh đã lăn ra bệnh rồi.
Cảm nhận được hơi ấm trên trán, trong cơn mê sảng A Nguyên bỗng đưa tay nắm chặt lấy bàn tay to lớn của hắn, tội nghiệp lầm bầm một tiếng "lạnh".
Hoắc Kình nhíu mày, định dùng sức rút tay ra. Nhưng nàng nắm quá chặt, hắn vừa rút tay là cả người nàng cũng chuyển động theo.
Chiếc ghế dài vốn chật hẹp, nàng chỉ cần nhích nhẹ là nửa thân người đã chơi vơi giữa không trung, Hoắc Kình đành phải dừng lại.
Lúc trước hắn không thấy mình làm gì sai, nhưng giờ nhìn bộ dạng này của nàng, hắn bỗng thấy dường như mình hơi quá đáng.
Người đã sốt đến mức này, nếu cứ mặc kệ thì e là hỏng cả đầu óc, sau này hắn có thể phải chịu trách nhiệm với nàng cả đời mất.
Nghĩ tới đây, Hoắc Kình lạnh lùng thốt ra hai chữ "phiền phức".
Đoạn hắn đặt đèn dầu xuống đất, cúi người vác nàng lên vai, rồi cầm đèn bước đi.
Bị vác trên vai, A Nguyên khó chịu rên hừ hừ.
Hoắc Kình chẳng màng tới, vác thẳng nàng về phòng mình rồi đặt lên giường.
Giường của Hoắc Kình là loại giường đóng ở tiệm mộc bên cạnh khi hắn mới thuê gian tiệm này.
Nó vừa rộng rãi lại vừa chắc chắn.
Đặt nàng xuống giường xong, hắn lục tìm tấm chăn mỏng đắp lên người nàng.
Được đắp chăn ấm áp, A Nguyên dần không còn kêu lạnh nữa, chỉ thi thoảng vẫn thút thít gọi phụ thân gọi mẫu thân trong cơn mê.
Cũng may ngày trước ở trong quân ngũ Hoắc Kình từng chăm sóc người bệnh, nên không đến mức để mặc nàng tự sinh tự diệt.
Trong quân doanh lính tráng bị thương nhiều vô kể, quân y lo không xuể, những người bị thương nhẹ thường phải chăm sóc kẻ bị thương nặng.
Gặp người bị sốt cao mà không có thuốc men, chỉ còn cách dùng nước ấm lau người, rồi bón chút nước ấm cho uống.
Hoắc Kình sầm mặt cầm đèn bước ra ngoài.
Hắn đi vào gian bếp.
Gian bếp bám đầy bụi bặm và mạng nhện, đây cũng là lần đầu hắn bước vào đây.
Nấu chút nước nóng thì hắn vẫn làm được.
Hoắc Kình không bao giờ xuống bếp nên trong nhà chẳng có lấy một cái nồi bát chậu gì cả.
Hắn chạy ra tiệm phía trước lấy một chiếc nồi sắt, múc nước trong sân cọ rửa sạch sẽ.
Con ngựa trong sân thấy chủ nhân thì hưng phấn dậm chân, hí nhỏ một tiếng.
Giữa đêm khuya thanh vắng, chỉ có khoảng sân này là còn tiếng động.
Hoắc Kình liếc nhìn nó, quát khẽ: "Hắc Sát, đừng có kêu."
Dường như con ngựa đã theo hắn bảy tám năm hiểu tiếng người, bị mắng một câu lập tức im bặt.
Hoắc Kình bước tới, bốc một nắm cỏ khô bỏ vào máng ăn.
Sau đó hắn xách nước vào bếp, đặt nồi lên lò, nhóm lửa, gian bếp dần sáng sủa hẳn lên.
Ánh lửa soi rọi gương mặt Hoắc Kình, trông vẫn mang vài phần u ám.
Khi nước đã hơi âm ấm, hắn múc một nửa ra chậu, phần còn lại cứ để trên lò cho sôi hẳn.
Hắn bưng nước ra khỏi bếp, quay về phòng.
Tiện tay hắn sang phòng bên cạnh, thấy chiếc khăn trong chậu của nàng bèn cầm về luôn.
Nhúng khăn vào nước, vắt khô rồi lau trán cho nàng. Thấy nước mắt còn vương nơi khóe mắt nàng, hắn cũng tiện tay lau sạch, rồi giặt khăn vắt khô đặt lên trán nàng để hạ nhiệt.
Giữa đêm hôm thế này, y quán đều đóng cửa, cũng chẳng có lang trung nào chịu thức dậy đi khám bệnh, nên hắn chỉ còn cách này để giúp nàng giảm sốt.
Nửa đêm A Nguyên vừa lạnh vừa khó chịu, lại còn gặp ác mộng.
Sau giấc mơ bị bỏ rơi, nàng lại mơ thấy mình đang nằm trên một chiếc cầu độc mộc, hai bên là vực thẳm hun hút, chỉ cần nhúc nhích một chút là sẽ rơi xuống tan xương nát thịt.
Nhưng đến nửa đêm về sáng, cơ thể nàng dần ấm lên, chỗ nằm cũng từ chiếc cầu độc mộc biến thành một cây cầu rộng lớn, vững chãi.
Đôi lông mày nhíu chặt của nàng dần dãn ra.
Giấc ngủ này, nửa đêm đầu thì vật vã, nửa đêm sau lại êm đềm.
Khi A Nguyên tỉnh dậy thì trời đã xế chiều.
Vừa tỉnh giấc nàng đã thấy toàn thân đau nhức, đầu óc nặng trĩu, chưa được tỉnh táo cho lắm.
Nàng đưa tay day trán rồi ngồi dậy trên giường, khi nhìn rõ căn phòng này, nàng bỗng sững sờ.
Căn phòng này không phải là nơi nàng đã nằm lúc trước.
Nàng cũng không nằm trên chiếc ghế dài, mà là một chiếc giường lớn.
A Nguyên nén nỗi hoảng hốt, quan sát căn phòng.
Trong phòng chỉ có một chiếc giường lớn đơn sơ và một chiếc rương gỗ lớn, ngoài ra chính là tấm chăn bông mỏng trông còn rất mới đang đắp trên người nàng.
Trong nhà cũng như gian chính và ngoài sân, tất cả đều trống trải như nhau.
A Nguyên lập tức nhận ra, đây rất có thể là phòng của Hoắc gia.
Nhưng... tại sao nàng lại ở trong phòng của Hoắc gia cơ chứ?
Hà tú tài đi vệ sinh, Lý thị ở trong phòng trải giường chiếu. Nghĩ đến nữ nhi, vành mắt bà bỗng chốc đỏ hoe.
Bà không thể nào ngờ được đứa con vốn ngoan ngoãn hiền lành như A Nguyên lại dám trộm tiền, bị phát hiện còn ra tay làm bị thương người kế phụ luôn đối xử với nó như con ruột.
Tuy Lý thị không muốn tin, nhưng sự thật rành rành ngay trước mắt.
Bà lờ mờ đoán được nữ nhi đã đến tìm cô mẫu, chỉ là trước đó bà chẳng dám đi tìm.
Hà thái thái khi biết A Nguyên trộm mất số tiền dành dụm cho con trai lên kinh ứng thí, lại còn làm bị thương đứa con trai tú tài bảo bối của bà ta, lập tức chỉ tận mặt Lý thị mà mắng nhiếc không tiếc lời, bảo bà không biết dạy con.
Bà ta còn tuyên bố khi bắt được nha đầu đó về sẽ đánh gãy chân nó, rồi bêu rếu cho cả làng biết nó là phường trộm cắp!
Nếu không nhờ phu quân Lý thị can ngăn lão thái thái, nói rằng chuyện này đồn ra ngoài chẳng vẻ vang gì, e là ảnh hưởng đến con đường khoa cử về sau, bà ta mới chịu thôi ý định rêu rao khắp làng trên xóm dưới.
Dẫu vậy, Hà thái thái vẫn vì tức giận mà rủa sả A Nguyên suốt cả đêm.
Nửa tháng trôi qua, nghĩ bụng cơn giận của bà ta chắc đã nguôi ngoai, Lý thị mới ướm hỏi phu quân xem ông ta có ý định đi tìm A Nguyên hay không.
Hà Dự chẳng mảy may lo lắng việc A Nguyên sẽ vạch trần sự thật, trong lòng ông ta vẫn luôn tơ tưởng đến đứa con riêng xinh đẹp của thê tử, thế nên ông ta quay lại an ủi Lý thị.
Ông ta bảo người làm sai có thể dạy bảo lại, chứ người mất đi là hết, thời buổi loạn lạc thế này, tốt nhất vẫn nên tìm A Nguyên về cho yên tâm.
Lý thị cảm động vô cùng, thầm cảm thán tuy phận mình hai lần đò nhưng lần sau lại tốt hơn lần trước. Lần tái giá này bà đã gặp được một người chồng biết lễ nghĩa, lại bao dung độ lượng.
Nửa đêm, trời lại đổ mưa. Cơn mưa đến nhanh và dữ dội nhưng cũng tạnh rất mau.
Sau cơn mưa, thời tiết vốn đã se lạnh lại càng thêm rét căm căm.
A Nguyên nằm co quắp trên chiếc ghế dài, chẳng có gì che thân, lạnh đến mức phải cuộn tròn người lại để sưởi ấm.
Trong cơn lạnh lẽo run rẩy, A Nguyên mơ thấy một giấc mơ.
Nàng mơ về năm phụ thân qua đời.
Ruộng vườn trong nhà đều bị các bá bá các thúc thúc trong họ chiếm sạch, họ còn muốn đuổi mẹ con nàng ra khỏi căn nhà đang ở.
Mẫu thân nàng khóc đến tê dại, cuối cùng chẳng còn nước mắt mà khóc nữa.
Bà dắt tay nàng tìm đến trấn Thanh Thủy.
Mẫu thân bảo nàng đứng chờ ngoài một cửa tiệm, nói là đi mua ít đồ rồi sẽ quay lại ngay.
A Nguyên lờ mờ hiểu rằng mẫu thân không muốn nuôi mình nữa, nhưng nàng không dám nói ra.
Đợi suốt hai canh giờ mà mẫu thân vẫn chẳng quay lại tìm nàng.
Nàng vừa khóc vừa lầm lũi đi bộ từ trên trấn về tận nhà.
Khi mẫu thân thấy nàng ở nhà, bà cũng vô cùng kinh ngạc.
Có lẽ bà không ngờ một đứa trẻ mới bảy tuổi lại có thể tự mình tìm được đường về nhà.
Mẫu thân cũng đỏ hoe mắt, hai mẫu tử ôm nhau khóc nức nở hồi lâu.
A Nguyên sợ mẫu thân lại bỏ rơi mình lần nữa, nên từ khi trở về, nàng chưa bao giờ dám hờn dỗi hay làm nũng nửa lời.
Gặp lại chuyện cũ trong mơ, A Nguyên thấy lạnh lẽo và khó chịu vô cùng, cảm giác đó y hệt như lúc bị bỏ lại nơi cửa tiệm năm nào.
Chỉ có một mình đơn độc, nỗi cô đơn và sợ hãi lại một lần nữa dâng trào trong lòng.
Trong cơn mê sảng, nàng khóc thút thít, miệng nghẹn ngào lẩm bẩm: "Mẫu thân, đừng bỏ rơi con..."
Giữa đêm khuya, ngoài vài tiếng chó sủa xa xăm và tiếng nước nhỏ giọt trên mái hiên, tiếng khóc nỉ non của A Nguyên bỗng trở nên rõ mồn một.
Hoắc Kình vốn là người ngủ rất nông.
Bao nhiêu năm ở trong quân ngũ hắn luôn phải giữ cảnh giác cao độ, dẫu nay đã giải ngũ nhưng thói quen ấy vẫn chẳng hề thay đổi.
Vì thế, khi tiếng khóc nhỏ như tiếng mèo kêu vọng vào phòng, Hoắc Kình lập tức tỉnh giấc.
Gã gối đầu lên cánh tay, trừng mắt nhìn lên trần nhà tối om.
Hoắc Kình cứ ngỡ nàng chỉ khóc một lát rồi thôi, nào ngờ tiếng khóc ấy cứ rấm rứt kéo dài suốt gần nửa canh giờ!
Nàng còn nói mớ gọi mẫu thân, lảm nhảm những lời mê sảng.
Thật là chẳng dứt ra được.
Hoắc Kình vốn có tính gắt ngủ, hắn bực bội đấm mạnh xuống giường một cái "rầm", âm thanh vang dội giữa đêm thanh vắng.
Tiếng động này phỏng chừng nhà hàng xóm cũng nghe thấy, vậy mà người ở phòng bên cạnh vẫn ngủ li bì, tiếng rấm rứt than vãn vẫn không dứt.
Người ở phòng bên vốn luôn sống trong lo sợ, nếu có tiếng động lớn chắc chắn phải tỉnh giấc mới đúng.
Hoắc Kình linh cảm có chuyện chẳng lành. Hắn lập tức ngồi dậy, thắp đèn dầu rồi cầm sang phòng bên cạnh.
Đứng ngoài cửa phòng đối diện, Hoắc Kình giơ tay gõ cửa.
Gõ mấy lượt mà người bên trong vẫn không có phản hồi. Nếu không phải ngủ quá say thì chắc chắn là đã ngất đi rồi.
Hoắc Kình nhất thời mủi lòng thu nhận một người, chẳng ngờ lại rước thêm một rắc rối về nhà.
Hắn định tông cửa bước vào, nhưng chợt nhớ ra cánh cửa này không có chốt trong, bèn thử đẩy nhẹ.
Chẳng biết do nữ tử này quá vô tư hay là tin tưởng hắn tuyệt đối mà sau cửa chẳng có vật gì chắn cả, hắn chỉ cần đẩy nhẹ là cửa đã mở toang.
Ban đầu Hoắc Kình nghĩ cho nàng một nơi trú chân đã là nhân từ lắm rồi, nhưng khi cầm đèn bước vào, thấy nàng co rúm đáng thương trên chiếc ghế dài, hắn lại thấy mình nên đưa cho nàng một tấm chăn mới phải.
Hoắc Kình bước tới hai bước, đưa tay lay vai nàng: "Tỉnh lại đi."
Người trên ghế vẫn không tỉnh. Khóe mắt nàng còn vương lệ, cơ thể run cầm cập, đôi môi mấp máy nói "lạnh quá".
Hoắc Kình áp mu bàn tay vào vầng trán lấm tấm mồ hôi của nàng, bấy giờ mới thấy nóng như hòn than.
Từ nhỏ Hoắc Kình đã nếm trải đủ cực khổ, mùa đông gió rét căm căm đi chân trần cũng chẳng thấy ốm đau gì. Không ngờ nữ tử này lại mỏng manh dễ vỡ đến thế.
Chỉ dính chút mưa, uống vài ngụm nước lạnh đã lăn ra bệnh rồi.
Cảm nhận được hơi ấm trên trán, trong cơn mê sảng A Nguyên bỗng đưa tay nắm chặt lấy bàn tay to lớn của hắn, tội nghiệp lầm bầm một tiếng "lạnh".
Hoắc Kình nhíu mày, định dùng sức rút tay ra. Nhưng nàng nắm quá chặt, hắn vừa rút tay là cả người nàng cũng chuyển động theo.
Chiếc ghế dài vốn chật hẹp, nàng chỉ cần nhích nhẹ là nửa thân người đã chơi vơi giữa không trung, Hoắc Kình đành phải dừng lại.
Lúc trước hắn không thấy mình làm gì sai, nhưng giờ nhìn bộ dạng này của nàng, hắn bỗng thấy dường như mình hơi quá đáng.
Người đã sốt đến mức này, nếu cứ mặc kệ thì e là hỏng cả đầu óc, sau này hắn có thể phải chịu trách nhiệm với nàng cả đời mất.
Nghĩ tới đây, Hoắc Kình lạnh lùng thốt ra hai chữ "phiền phức".
Đoạn hắn đặt đèn dầu xuống đất, cúi người vác nàng lên vai, rồi cầm đèn bước đi.
Bị vác trên vai, A Nguyên khó chịu rên hừ hừ.
Hoắc Kình chẳng màng tới, vác thẳng nàng về phòng mình rồi đặt lên giường.
Giường của Hoắc Kình là loại giường đóng ở tiệm mộc bên cạnh khi hắn mới thuê gian tiệm này.
Nó vừa rộng rãi lại vừa chắc chắn.
Đặt nàng xuống giường xong, hắn lục tìm tấm chăn mỏng đắp lên người nàng.
Được đắp chăn ấm áp, A Nguyên dần không còn kêu lạnh nữa, chỉ thi thoảng vẫn thút thít gọi phụ thân gọi mẫu thân trong cơn mê.
Cũng may ngày trước ở trong quân ngũ Hoắc Kình từng chăm sóc người bệnh, nên không đến mức để mặc nàng tự sinh tự diệt.
Trong quân doanh lính tráng bị thương nhiều vô kể, quân y lo không xuể, những người bị thương nhẹ thường phải chăm sóc kẻ bị thương nặng.
Gặp người bị sốt cao mà không có thuốc men, chỉ còn cách dùng nước ấm lau người, rồi bón chút nước ấm cho uống.
Hoắc Kình sầm mặt cầm đèn bước ra ngoài.
Hắn đi vào gian bếp.
Gian bếp bám đầy bụi bặm và mạng nhện, đây cũng là lần đầu hắn bước vào đây.
Nấu chút nước nóng thì hắn vẫn làm được.
Hoắc Kình không bao giờ xuống bếp nên trong nhà chẳng có lấy một cái nồi bát chậu gì cả.
Hắn chạy ra tiệm phía trước lấy một chiếc nồi sắt, múc nước trong sân cọ rửa sạch sẽ.
Con ngựa trong sân thấy chủ nhân thì hưng phấn dậm chân, hí nhỏ một tiếng.
Giữa đêm khuya thanh vắng, chỉ có khoảng sân này là còn tiếng động.
Hoắc Kình liếc nhìn nó, quát khẽ: "Hắc Sát, đừng có kêu."
Dường như con ngựa đã theo hắn bảy tám năm hiểu tiếng người, bị mắng một câu lập tức im bặt.
Hoắc Kình bước tới, bốc một nắm cỏ khô bỏ vào máng ăn.
Sau đó hắn xách nước vào bếp, đặt nồi lên lò, nhóm lửa, gian bếp dần sáng sủa hẳn lên.
Ánh lửa soi rọi gương mặt Hoắc Kình, trông vẫn mang vài phần u ám.
Khi nước đã hơi âm ấm, hắn múc một nửa ra chậu, phần còn lại cứ để trên lò cho sôi hẳn.
Hắn bưng nước ra khỏi bếp, quay về phòng.
Tiện tay hắn sang phòng bên cạnh, thấy chiếc khăn trong chậu của nàng bèn cầm về luôn.
Nhúng khăn vào nước, vắt khô rồi lau trán cho nàng. Thấy nước mắt còn vương nơi khóe mắt nàng, hắn cũng tiện tay lau sạch, rồi giặt khăn vắt khô đặt lên trán nàng để hạ nhiệt.
Giữa đêm hôm thế này, y quán đều đóng cửa, cũng chẳng có lang trung nào chịu thức dậy đi khám bệnh, nên hắn chỉ còn cách này để giúp nàng giảm sốt.
Nửa đêm A Nguyên vừa lạnh vừa khó chịu, lại còn gặp ác mộng.
Sau giấc mơ bị bỏ rơi, nàng lại mơ thấy mình đang nằm trên một chiếc cầu độc mộc, hai bên là vực thẳm hun hút, chỉ cần nhúc nhích một chút là sẽ rơi xuống tan xương nát thịt.
Nhưng đến nửa đêm về sáng, cơ thể nàng dần ấm lên, chỗ nằm cũng từ chiếc cầu độc mộc biến thành một cây cầu rộng lớn, vững chãi.
Đôi lông mày nhíu chặt của nàng dần dãn ra.
Giấc ngủ này, nửa đêm đầu thì vật vã, nửa đêm sau lại êm đềm.
Khi A Nguyên tỉnh dậy thì trời đã xế chiều.
Vừa tỉnh giấc nàng đã thấy toàn thân đau nhức, đầu óc nặng trĩu, chưa được tỉnh táo cho lắm.
Nàng đưa tay day trán rồi ngồi dậy trên giường, khi nhìn rõ căn phòng này, nàng bỗng sững sờ.
Căn phòng này không phải là nơi nàng đã nằm lúc trước.
Nàng cũng không nằm trên chiếc ghế dài, mà là một chiếc giường lớn.
A Nguyên nén nỗi hoảng hốt, quan sát căn phòng.
Trong phòng chỉ có một chiếc giường lớn đơn sơ và một chiếc rương gỗ lớn, ngoài ra chính là tấm chăn bông mỏng trông còn rất mới đang đắp trên người nàng.
Trong nhà cũng như gian chính và ngoài sân, tất cả đều trống trải như nhau.
A Nguyên lập tức nhận ra, đây rất có thể là phòng của Hoắc gia.
Nhưng... tại sao nàng lại ở trong phòng của Hoắc gia cơ chứ?