Trời vừa hửng sáng ngày hôm sau, bên ngoài điện Hàm Nguyên trong hoàng cung.
Bách quan cung kính đứng trên quảng trường trước điện, chờ đón Nhiếp Chính Vương vừa Tây chinh khải hoàn hồi triều.
Đại Chu lập quốc tới nay đã tròn một trăm năm. Dưới sự cai trị cần mẫn của các đời đế vương, quốc gia có thể xem như phát triển thuận lợi, bách tính an cư lạc nghiệp.
Thế nhưng đại thụ bén rễ trăm năm, bộ rễ ẩn dưới lòng đất vô cùng phức tạp, chằng chịt đan xen. Trên triều đình các phe phái rễ sâu gốc chắc, sóng ngầm cuồn cuộn.
Năm đó tiên đế lâm bệnh nguy kịch, các thế lực khắp nơi rục rịch, phát động Loạn Tam Vương, khiến triều đình và dân gian rơi vào hỗn loạn.
Giữa lúc nguy nan, Nhiếp Chính Vương dẫn quân cần vương, một đòn trấn áp phản loạn. Sau khi Tân Đế đăng cơ, hắn dùng thủ đoạn sấm sét thanh trừng các khối u độc tồn tại nhiều năm trong triều, nhanh chóng nắm giữ triều chính.
Người này bề ngoài ôn hòa nho nhã như ngọc, nhưng trong việc triều chính lại hành sự cứng rắn quyết đoán.
Tuy nhiên, hắn còn chưa tới tuổi nhi lập* đã nắm đại quyền trong tay, đánh tiếng quá thịnh, nhưng nền móng chưa đủ sâu dày. Điều đó cũng khiến một số lão thần tự cho mình tư lịch thâm hậu, công lao hiển hách, có cớ phát tác.
*Trong văn cổ, "nhi lập" thường được dùng để chỉ tuổi 30 hoặc người đã đến tuổi 30.
Hôm nay là lần đầu tiên Nhiếp Chính Vương thượng triều sau khi hồi kinh. Quan viên từ tứ phẩm trở lên đều có mặt đầy đủ, duy chỉ thiếu Bùi Tể tướng, người đứng đầu bách quan.
Người có thể đứng trước đại điện, ai chẳng phải tinh hoa xuất chúng? Sao có thể không hiểu những khúc mắc trong đó.
“Hôm qua tinh thần Bùi Tể tướng còn phấn chấn, trên triều thao thao bất tuyệt, tiếng như chuông lớn. Lúc tan triều bước đi như có gió, hoàn toàn không giống người mắc bệnh. Hôm nay lại bệnh tới mức không thể thượng triều.”
“Phải đó, trùng hợp chọn đúng lúc Nhiếp Chính Vương hồi triều mà ngã bệnh...”
“Suỵt, đừng nói nữa.”
Hai vị quan đứng ở góc khuất của điện Hàm Nguyên đang nhỏ giọng bàn tán. Ngẩng đầu lên, nhìn thấy ánh mắt của Trình Ngự Sử đang hướng về phía mình, sống lưng lập tức lạnh toát.
Trên triều không được tùy ý nói chuyện riêng, hai người vội vàng ngậm miệng.
Trình Chi Diễn xuất thân vững chắc, tính tình cứng rắn như đá. Làm người ngay thẳng, chẳng nể mặt bất kỳ ai. Nếu bị Trình Chi Diễn nắm được nhược điểm thì phiền toái lớn. Những kẻ bị y hạch tội hiếm ai có kết cục tốt.
Tuy chỉ là có vài lời không thể nói ra, nhưng trong lòng mọi người đều hiểu rõ.
Bùi Tể tướng nói là ngã bệnh, nhưng trên mặt Bùi Cảnh Tiên, thân làm con trai, lại chẳng thấy nửa phần lo lắng.
Cơn “bệnh” này tới quá đột ngột. Không “bệnh” sớm, không “bệnh” muộn, cố tình chọn đúng lúc Nhiếp Chính Vương hồi triều mới “bệnh”.
Rõ ràng là ông ta ỷ vào tư lịch và công lao của mình với cương vị tể tướng hai triều, nhân dịp Nhiếp Chính Vương rời kinh ba năm quay lại chấp chính, ông ta muốn kiếm cớ ra oai phủ đầu vị quyền thần trẻ tuổi này.
Mắt thấy giờ thượng triều sắp tới, xa xa một cỗ kim liễn* xa hoa chậm rãi tiến về phía điện Hàm Nguyên. Tân Đế và Nhiếp Chính Vương vốn là cữu cữu và tôn tử thân thiết, thường xuyên cùng ngồi một liễn tới dự triều.
*Liễn (辇) là một loại xe ngồi hoặc kiệu có bánh dành riêng cho hoàng đế, hoàng hậu và những người có địa vị cực cao trong hoàng thất. Ban đầu, liễn là xe do người kéo hoặc đẩy. Về sau, trong văn học cổ trang, "liễn" thường dùng để chỉ các loại xa giá ngự dụng của hoàng đế. Một số cách gọi thường gặp: Kim liễn (金辇): xe ngựa dát vàng hoặc trang trí vàng. Ngự liễn (御辇): xa giá của hoàng đế. Loan liễn (鸾辇): liễn trang trí hình chim loan, thường dành cho đế hậu. Phượng liễn (凤辇): liễn của hoàng hậu hoặc công chúa.
Không lâu sau, kim liễn dừng trước điện Hàm Nguyên.
Các trọng thần bên ngoài điện đồng loạt cung nghênh Tân Đế và Nhiếp Chính Vương. Sau khi nghe Tân Đế truyền miễn lễ, mọi người mới từ từ đứng dậy.
Sau khi hành lễ xong, Bùi Cảnh Tiên bước ra khỏi hàng ngũ bách quan, khom người tiến lên một bước, hướng về người trên kim liễn nói: “Khởi bẩm Bệ hạ, khởi bẩm Nhiếp Chính Vương, gia phụ Bùi Kính thân thể không khỏe, hôm nay không thể đích thân tới nghênh đón Nhiếp Chính Vương hồi triều, mong được lượng thứ.”
Tuy lời nói tuy cung kính, nhưng giọng điệu nghe không có chút ý tứ xin người khác lượng thứ chút nào.
Trong khoảnh khắc, xung quanh hoàn toàn yên lặng.
Các triều thần ngoài điện Hàm Nguyên đồng loạt cúi đầu nín thở, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, không ai dám xen vào nửa câu.
Rõ ràng là ra oai phủ đầu.
Nhưng cho dù Nhiếp Chính Vương hiểu rõ trong lòng, không có chứng cứ cũng chẳng thể làm gì.
Người ta “bệnh” rồi, còn khách khí xin ngươi thông cảm, ngươi còn có thể làm gì?
Chẳng lẽ chỉ vì vài suy đoán vô căn cứ ấy mà xử phạt một lão thần đã vì Đại Chu cúc cung tận tụy hơn nửa đời người?
Là người nắm quyền một nước, nếu ngay cả chút độ lượng dung thứ cũng không có, chỉ sợ sẽ khiến các thần tử có mặt nơi đây lạnh lòng, bị người đời chỉ trỏ sau lưng.
Bầu không khí trầm mặc kéo dài hồi lâu.
Tân đế Minh Triệt từ từ vén tấm rèm màu sẫm, bước xuống khỏi kim liễn.
Các triều thần ngoài điện Hàm Nguyên đều khom người chờ Tạ Thư xuống xe.
Nhưng chờ rất lâu vẫn không thấy bóng dáng hắn, trong lòng không khỏi nghi hoặc.
Nhiếp Chính Vương đâu rồi?
Mọi người đang nghi hoặc, bỗng nghe Hoàng đế dùng giọng nói còn mang chút non trẻ lên tiếng: “Nhiếp Chính Vương nói hôm nay có việc quan trọng cần xử lý, nên sẽ không tham dự triều hội.”
Các triều thần: “...”
Làm ầm ĩ nửa ngày, hóa ra Nhiếp Chính Vương có việc quan trọng nên không tới.
Vậy hôm nay Bùi Tể tướng giả bệnh cho ai xem?
Có người thích xem náo nhiệt lén nhìn về phía Bùi Cảnh Tiên.
Sắc mặt Bùi Cảnh Tiên rõ ràng xuất hiện thêm vài phần lúng túng.
Minh Triệt thong thả liếc hắn ta một cái: “Vừa rồi ngươi nói Bùi Tể tướng cáo bệnh xin nghỉ.”
“Dạ.”
Bùi Cảnh Tiên đáp một tiếng, trong lòng bỗng dâng lên cảm giác bất an.
Chỉ nghe Tiểu Hoàng đế “ồ” một tiếng, mặt không đổi sắc nói: “Nhiếp Chính Vương biết hôm nay Bùi Tể tướng có thể không khỏe. Bùi Tể tướng vì Đại Chu cúc cung tận tụy, đáng được hậu đãi. Vì vậy hắn đã sai người chuẩn bị một phần thuốc bổ từ trước, coi như bày tỏ chút tâm ý.”
Lời này vừa dứt, các triều thần ngoài điện Hàm Nguyên đồng loạt hít một hơi lạnh.
Minh Triệt phất tay với Trương nội quan bên cạnh, ra lệnh mang phần thuốc bổ đã chuẩn bị sẵn lên.
Ánh mắt mọi người theo lời Tiểu Hoàng đế đồng loạt hướng về tay Trương nội quan.
Chỉ thấy Trương nội quan khom người nâng một hộp gỗ tử đàn tinh xảo tiến lên.
Trước ánh nhìn chăm chú của tất cả mọi người, ông ấy mở chiếc hộp ra.
Toàn bộ ánh mắt đều đổ dồn lên chiếc hộp gỗ.
Nhưng ngay khoảnh khắc nhìn rõ vật nằm bên trong hộp, tất cả đều ngây người.
Bên trong hộp chỉ đặt một cây dã sơn sâm bình thường đến không thể bình thường hơn?
Cây dã sơn sâm nằm yên trên lớp nhung đỏ, gió vừa thổi qua, mấy sợi rễ tàn héo thê lương rơi xuống đất.
Chúng thần: “...”
Trương nội quan nâng cây sâm bước tới trước mặt Bùi Cảnh Tiên, cao giọng nói: “Nhiếp Chính vương căn dặn, Tể tướng là bậc tể tướng phụng sự hai triều, cũng là công thần phò tá bệ hạ đăng cơ, cúc cũng tận tuỵ. Dã sơn sâm này bổ dưỡng nhất, rất thích hợp với người tuổi cao hư nhược. Trước đó ít lâu, Nhiếp Chính vương cũng cho người mang một ít tới Ngọc Thương Sơn biếu Tiết thái phó đang dưỡng lão tại đó, Tiết thái phó dùng rất hợp ý, nghĩ rằng Tể tướng cũng sẽ yêu thích. Nếu thân thể Tể tướng có bệnh, nên an tâm tĩnh dưỡng trong phủ. Trước khi dưỡng khỏe thân mình, ngài ấy không cần bận lòng chuyện triều chính nữa.”
Chúng thần: “...”
Đây đâu phải tặng đồ bổ, rõ ràng là cảnh cáo.
Những lời này nói ra cực kỳ cao minh, nghe qua ôn hòa khiêm nhường cung kính, lễ nghi chu toàn, còn thể hiện đủ sự quan tâm đối với lão thần, khiến người ta không tìm nổi một chỗ sai.
Nhưng người có mặt ở đây, ai lại không hiểu huyền cơ ẩn trong lời nói ấy.
Khác nào đang bảo, Tể tướng không khỏe là vì tuổi già sức yếu, chi bằng giống Tiết thái phó, an hưởng tuổi già cho xong. Thân thể kém như vậy còn vào triều làm gì, còn xử lý chính sự làm gì. Hôm nay không cần lên triều, ngày mai không cần lên triều, về sau cũng không cần lên triều nữa, cứ lui sang một bên nghỉ ngơi đi thôi.
Đương nhiên Bùi Cảnh Tiên hiểu ý trong lời Tạ Thư, sắc mặt lúc đỏ lúc trắng.
Trương nội quan ghé sát Bùi Cảnh Tiên, dùng âm lượng chỉ hai người nghe thấy mà nói: “Tối qua Tể tướng nghỉ lại chỗ ngoại thất tại phố Sùng Đức, tới sáng nay trời sáng mới rời đi. Nghĩ rằng đêm qua Tể tướng hao tổn không ít sức lực, tuổi tác ngài ấy cũng không còn trẻ, khó tránh khỏi thể lực không chống đỡ nổi, cần bồi bổ thật tốt mới được. Nhiếp Chính Vương nói rồi, cây sâm này xin Tể tướng từ từ dùng.”
Bùi Cảnh Tiên sửng sốt. Phụ thân hắn ta luôn coi trọng thanh danh, chuyện nuôi ngoại thất của ông ta kín kẽ tới mức thần không biết quỷ không hay, ngay cả mẫu thân hắn ta chưa chắc biết được.
Vậy mà Tạ Thư lại rõ như lòng bàn tay, rõ ràng đang ngầm nhắc nhở người khác đừng mong giở trò trước mặt hắn.
Bùi Cảnh Tiên nhìn cây dã sơn sâm, lòng lạnh đi không ít. Hắn ta là người thông minh, tất nhiên hiểu hậu quả của việc đối đầu với Tạ Thư. Vì thanh danh và tương lai của phủ Tể tướng, hắn ta chỉ đành “cảm kích rơi lệ” nhận lấy đồ bổ: “Đa tạ Nhiếp Chính Vương quan tâm.”
Chúng triều thần thấy vậy, không dám chậm trễ, vội vàng đồng thanh hô: “Nhiếp Chính Vương nhân hậu.”
Dù rời kinh ba năm, Nhiếp Chính Vương vẫn nắm rõ triều cục cùng mọi người không sai một chút nào. Hôm nay hắn còn chưa tới triều, chỉ vài ba câu đã biến Tể tướng thành con gà dùng để giết gà dọa khỉ. Phần tâm cơ thâm sâu này, người thường khó lòng sánh kịp.
Buổi triều hội kết thúc trong khung cảnh quân thần đồng lòng, hòa hợp vui vẻ. Chúng thần tốp năm tốp ba tản đi, trên đường khó tránh khỏi nhắc tới chuyện hôm nay.
“Sau chuyện này, ta thấy một thời gian nữa khó gặp Tể tướng.”
“Nói mới nhớ, Nhiếp Chính Vương bảo hôm nay có việc quan trọng cần xử lý. Rốt cuộc việc quan trọng ấy là chuyện gì?”
“Cũng đâu nghe nói biên cương báo nguy hay nơi nào xảy ra thiên tai.”
-
Lúc này, trước cổng phủ Trưởng công chúa, xe ngựa nối dài thành hàng. Hạ nhân ra vào không ngớt, khiêng từng rương hành lý chất lên xe.
Chính đường tiền sảnh, Tạ Thư ngồi yên, cúi đầu xem tấu chương.
Minh Nghi ngồi đối diện hắn, đang duỗi tay cho Ngọc Lê nhuộm móng tay.
Hai người ai làm việc nấy, không buồn để ý đối phương. Trên mặt đều viết rõ hai chữ lạnh nhạt, dường như trời sinh tính cách cả hai không hợp. Trong phòng yên lặng không tiếng động, giữa sự tĩnh mịch còn lộ vài phần ngượng ngập kỳ lạ.
Bầu không khí nặng nề, Ngọc Lê đứng giữa hai người, ngay cả thở mạnh cũng không dám. Nhuộm móng tay cho Minh Nghi xong, nàng ấy vội vàng lui xuống.
Minh Nghi giơ tay lên, hài lòng nhìn đầu ngón tay trắng ngần vừa nhuộm đỏ. Qua kẽ ngón tay thoáng thấy Tạ Thư, khóe môi nàng khẽ hạ xuống.
Tạ Thư nhận ra ánh mắt nàng, tay lật tấu chương khựng lại, ngước mắt nhìn sang: “Sao vậy?”
“Không sao.” Minh Nghi nhìn thẳng vào mắt hắn.
“Chỉ cảm thấy ba năm không gặp, dường như chàng thay đổi không ít.”
Tạ Thư ở Tây Bắc ba năm, gầy đi đôi chút. Đường nét chân mày và đôi mắt hắn càng thêm sâu sắc hơn trước, cũng tăng thêm vài phần phòng thái trầm ổn chín chắn.
Tạ Thư thuận miệng đáp một tiếng: “Vậy sao?”
Nghe giọng hắn nhàn nhạt, Minh Nghi mím môi quay đầu đi: “Già hơn một chút.”
Ánh mắt Tạ Thư rơi trên vạt váy tinh xảo thêu hoa phù dung bằng chỉ vàng đắt đỏ của nàng. Nghĩ tới mấy trăm rương y phục châu báu sắp chuyển tới Nghi Viên, hắn đáp lại một câu: “Nàng chẳng thay đổi chút nào.”
Vẫn xa hoa, kiêu căng, phiền phức như trước.
Minh Nghi nghe ra ý trong lời hắn, khẽ kéo khóe môi, không nói thêm gì.
Sau một hồi im lặng ngầm hiểu ý nhau, thị vệ Thừa Phong xuyên qua hành lang bước vào bẩm báo: “Vương gia, công chúa điện hạ, hành lý đều chất lên xe ngựa cả rồi, bất cứ lúc nào cũng có thể khởi hành tới Nghi Viên.”
Tạ Thư khép tấu chương, đứng dậy bước tới trước mặt Minh Nghi: “Đi thôi.”
Minh Nghi “ừ” một tiếng, theo sau bước chân hắn. Ánh mắt dừng trên tấm lưng cao thẳng của hắn, muốn nói gì đó nhưng không thốt nên lời.
Hai người một trước một sau đi dọc hành lang, suốt quãng đường không ai lên tiếng.
Cho tới khi tới bậc thềm trước cổng chính, Minh Nghi bỗng giả vờ ho khan mấy tiếng, đưa bàn tay vừa nhuộm đỏ, quý giá vô cùng, tới trước mặt Tạ Thư.
Tạ Thư có phần khó hiểu nhìn nàng.
“Nhìn ta làm gì? Còn không mau đỡ ta xuống bậc thềm.” Minh Nghi liếc hắn một cái.
“Chẳng phải nói sẽ làm phu thê ‘ân ái’ sao? Chàng tự giác một chút đi.”
Tạ Thư: “...”
Bách quan cung kính đứng trên quảng trường trước điện, chờ đón Nhiếp Chính Vương vừa Tây chinh khải hoàn hồi triều.
Đại Chu lập quốc tới nay đã tròn một trăm năm. Dưới sự cai trị cần mẫn của các đời đế vương, quốc gia có thể xem như phát triển thuận lợi, bách tính an cư lạc nghiệp.
Thế nhưng đại thụ bén rễ trăm năm, bộ rễ ẩn dưới lòng đất vô cùng phức tạp, chằng chịt đan xen. Trên triều đình các phe phái rễ sâu gốc chắc, sóng ngầm cuồn cuộn.
Năm đó tiên đế lâm bệnh nguy kịch, các thế lực khắp nơi rục rịch, phát động Loạn Tam Vương, khiến triều đình và dân gian rơi vào hỗn loạn.
Giữa lúc nguy nan, Nhiếp Chính Vương dẫn quân cần vương, một đòn trấn áp phản loạn. Sau khi Tân Đế đăng cơ, hắn dùng thủ đoạn sấm sét thanh trừng các khối u độc tồn tại nhiều năm trong triều, nhanh chóng nắm giữ triều chính.
Người này bề ngoài ôn hòa nho nhã như ngọc, nhưng trong việc triều chính lại hành sự cứng rắn quyết đoán.
Tuy nhiên, hắn còn chưa tới tuổi nhi lập* đã nắm đại quyền trong tay, đánh tiếng quá thịnh, nhưng nền móng chưa đủ sâu dày. Điều đó cũng khiến một số lão thần tự cho mình tư lịch thâm hậu, công lao hiển hách, có cớ phát tác.
*Trong văn cổ, "nhi lập" thường được dùng để chỉ tuổi 30 hoặc người đã đến tuổi 30.
Hôm nay là lần đầu tiên Nhiếp Chính Vương thượng triều sau khi hồi kinh. Quan viên từ tứ phẩm trở lên đều có mặt đầy đủ, duy chỉ thiếu Bùi Tể tướng, người đứng đầu bách quan.
Người có thể đứng trước đại điện, ai chẳng phải tinh hoa xuất chúng? Sao có thể không hiểu những khúc mắc trong đó.
“Hôm qua tinh thần Bùi Tể tướng còn phấn chấn, trên triều thao thao bất tuyệt, tiếng như chuông lớn. Lúc tan triều bước đi như có gió, hoàn toàn không giống người mắc bệnh. Hôm nay lại bệnh tới mức không thể thượng triều.”
“Phải đó, trùng hợp chọn đúng lúc Nhiếp Chính Vương hồi triều mà ngã bệnh...”
“Suỵt, đừng nói nữa.”
Hai vị quan đứng ở góc khuất của điện Hàm Nguyên đang nhỏ giọng bàn tán. Ngẩng đầu lên, nhìn thấy ánh mắt của Trình Ngự Sử đang hướng về phía mình, sống lưng lập tức lạnh toát.
Trên triều không được tùy ý nói chuyện riêng, hai người vội vàng ngậm miệng.
Trình Chi Diễn xuất thân vững chắc, tính tình cứng rắn như đá. Làm người ngay thẳng, chẳng nể mặt bất kỳ ai. Nếu bị Trình Chi Diễn nắm được nhược điểm thì phiền toái lớn. Những kẻ bị y hạch tội hiếm ai có kết cục tốt.
Tuy chỉ là có vài lời không thể nói ra, nhưng trong lòng mọi người đều hiểu rõ.
Bùi Tể tướng nói là ngã bệnh, nhưng trên mặt Bùi Cảnh Tiên, thân làm con trai, lại chẳng thấy nửa phần lo lắng.
Cơn “bệnh” này tới quá đột ngột. Không “bệnh” sớm, không “bệnh” muộn, cố tình chọn đúng lúc Nhiếp Chính Vương hồi triều mới “bệnh”.
Rõ ràng là ông ta ỷ vào tư lịch và công lao của mình với cương vị tể tướng hai triều, nhân dịp Nhiếp Chính Vương rời kinh ba năm quay lại chấp chính, ông ta muốn kiếm cớ ra oai phủ đầu vị quyền thần trẻ tuổi này.
Mắt thấy giờ thượng triều sắp tới, xa xa một cỗ kim liễn* xa hoa chậm rãi tiến về phía điện Hàm Nguyên. Tân Đế và Nhiếp Chính Vương vốn là cữu cữu và tôn tử thân thiết, thường xuyên cùng ngồi một liễn tới dự triều.
*Liễn (辇) là một loại xe ngồi hoặc kiệu có bánh dành riêng cho hoàng đế, hoàng hậu và những người có địa vị cực cao trong hoàng thất. Ban đầu, liễn là xe do người kéo hoặc đẩy. Về sau, trong văn học cổ trang, "liễn" thường dùng để chỉ các loại xa giá ngự dụng của hoàng đế. Một số cách gọi thường gặp: Kim liễn (金辇): xe ngựa dát vàng hoặc trang trí vàng. Ngự liễn (御辇): xa giá của hoàng đế. Loan liễn (鸾辇): liễn trang trí hình chim loan, thường dành cho đế hậu. Phượng liễn (凤辇): liễn của hoàng hậu hoặc công chúa.
Không lâu sau, kim liễn dừng trước điện Hàm Nguyên.
Các trọng thần bên ngoài điện đồng loạt cung nghênh Tân Đế và Nhiếp Chính Vương. Sau khi nghe Tân Đế truyền miễn lễ, mọi người mới từ từ đứng dậy.
Sau khi hành lễ xong, Bùi Cảnh Tiên bước ra khỏi hàng ngũ bách quan, khom người tiến lên một bước, hướng về người trên kim liễn nói: “Khởi bẩm Bệ hạ, khởi bẩm Nhiếp Chính Vương, gia phụ Bùi Kính thân thể không khỏe, hôm nay không thể đích thân tới nghênh đón Nhiếp Chính Vương hồi triều, mong được lượng thứ.”
Tuy lời nói tuy cung kính, nhưng giọng điệu nghe không có chút ý tứ xin người khác lượng thứ chút nào.
Trong khoảnh khắc, xung quanh hoàn toàn yên lặng.
Các triều thần ngoài điện Hàm Nguyên đồng loạt cúi đầu nín thở, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, không ai dám xen vào nửa câu.
Rõ ràng là ra oai phủ đầu.
Nhưng cho dù Nhiếp Chính Vương hiểu rõ trong lòng, không có chứng cứ cũng chẳng thể làm gì.
Người ta “bệnh” rồi, còn khách khí xin ngươi thông cảm, ngươi còn có thể làm gì?
Chẳng lẽ chỉ vì vài suy đoán vô căn cứ ấy mà xử phạt một lão thần đã vì Đại Chu cúc cung tận tụy hơn nửa đời người?
Là người nắm quyền một nước, nếu ngay cả chút độ lượng dung thứ cũng không có, chỉ sợ sẽ khiến các thần tử có mặt nơi đây lạnh lòng, bị người đời chỉ trỏ sau lưng.
Bầu không khí trầm mặc kéo dài hồi lâu.
Tân đế Minh Triệt từ từ vén tấm rèm màu sẫm, bước xuống khỏi kim liễn.
Các triều thần ngoài điện Hàm Nguyên đều khom người chờ Tạ Thư xuống xe.
Nhưng chờ rất lâu vẫn không thấy bóng dáng hắn, trong lòng không khỏi nghi hoặc.
Nhiếp Chính Vương đâu rồi?
Mọi người đang nghi hoặc, bỗng nghe Hoàng đế dùng giọng nói còn mang chút non trẻ lên tiếng: “Nhiếp Chính Vương nói hôm nay có việc quan trọng cần xử lý, nên sẽ không tham dự triều hội.”
Các triều thần: “...”
Làm ầm ĩ nửa ngày, hóa ra Nhiếp Chính Vương có việc quan trọng nên không tới.
Vậy hôm nay Bùi Tể tướng giả bệnh cho ai xem?
Có người thích xem náo nhiệt lén nhìn về phía Bùi Cảnh Tiên.
Sắc mặt Bùi Cảnh Tiên rõ ràng xuất hiện thêm vài phần lúng túng.
Minh Triệt thong thả liếc hắn ta một cái: “Vừa rồi ngươi nói Bùi Tể tướng cáo bệnh xin nghỉ.”
“Dạ.”
Bùi Cảnh Tiên đáp một tiếng, trong lòng bỗng dâng lên cảm giác bất an.
Chỉ nghe Tiểu Hoàng đế “ồ” một tiếng, mặt không đổi sắc nói: “Nhiếp Chính Vương biết hôm nay Bùi Tể tướng có thể không khỏe. Bùi Tể tướng vì Đại Chu cúc cung tận tụy, đáng được hậu đãi. Vì vậy hắn đã sai người chuẩn bị một phần thuốc bổ từ trước, coi như bày tỏ chút tâm ý.”
Lời này vừa dứt, các triều thần ngoài điện Hàm Nguyên đồng loạt hít một hơi lạnh.
Minh Triệt phất tay với Trương nội quan bên cạnh, ra lệnh mang phần thuốc bổ đã chuẩn bị sẵn lên.
Ánh mắt mọi người theo lời Tiểu Hoàng đế đồng loạt hướng về tay Trương nội quan.
Chỉ thấy Trương nội quan khom người nâng một hộp gỗ tử đàn tinh xảo tiến lên.
Trước ánh nhìn chăm chú của tất cả mọi người, ông ấy mở chiếc hộp ra.
Toàn bộ ánh mắt đều đổ dồn lên chiếc hộp gỗ.
Nhưng ngay khoảnh khắc nhìn rõ vật nằm bên trong hộp, tất cả đều ngây người.
Bên trong hộp chỉ đặt một cây dã sơn sâm bình thường đến không thể bình thường hơn?
Cây dã sơn sâm nằm yên trên lớp nhung đỏ, gió vừa thổi qua, mấy sợi rễ tàn héo thê lương rơi xuống đất.
Chúng thần: “...”
Trương nội quan nâng cây sâm bước tới trước mặt Bùi Cảnh Tiên, cao giọng nói: “Nhiếp Chính vương căn dặn, Tể tướng là bậc tể tướng phụng sự hai triều, cũng là công thần phò tá bệ hạ đăng cơ, cúc cũng tận tuỵ. Dã sơn sâm này bổ dưỡng nhất, rất thích hợp với người tuổi cao hư nhược. Trước đó ít lâu, Nhiếp Chính vương cũng cho người mang một ít tới Ngọc Thương Sơn biếu Tiết thái phó đang dưỡng lão tại đó, Tiết thái phó dùng rất hợp ý, nghĩ rằng Tể tướng cũng sẽ yêu thích. Nếu thân thể Tể tướng có bệnh, nên an tâm tĩnh dưỡng trong phủ. Trước khi dưỡng khỏe thân mình, ngài ấy không cần bận lòng chuyện triều chính nữa.”
Chúng thần: “...”
Đây đâu phải tặng đồ bổ, rõ ràng là cảnh cáo.
Những lời này nói ra cực kỳ cao minh, nghe qua ôn hòa khiêm nhường cung kính, lễ nghi chu toàn, còn thể hiện đủ sự quan tâm đối với lão thần, khiến người ta không tìm nổi một chỗ sai.
Nhưng người có mặt ở đây, ai lại không hiểu huyền cơ ẩn trong lời nói ấy.
Khác nào đang bảo, Tể tướng không khỏe là vì tuổi già sức yếu, chi bằng giống Tiết thái phó, an hưởng tuổi già cho xong. Thân thể kém như vậy còn vào triều làm gì, còn xử lý chính sự làm gì. Hôm nay không cần lên triều, ngày mai không cần lên triều, về sau cũng không cần lên triều nữa, cứ lui sang một bên nghỉ ngơi đi thôi.
Đương nhiên Bùi Cảnh Tiên hiểu ý trong lời Tạ Thư, sắc mặt lúc đỏ lúc trắng.
Trương nội quan ghé sát Bùi Cảnh Tiên, dùng âm lượng chỉ hai người nghe thấy mà nói: “Tối qua Tể tướng nghỉ lại chỗ ngoại thất tại phố Sùng Đức, tới sáng nay trời sáng mới rời đi. Nghĩ rằng đêm qua Tể tướng hao tổn không ít sức lực, tuổi tác ngài ấy cũng không còn trẻ, khó tránh khỏi thể lực không chống đỡ nổi, cần bồi bổ thật tốt mới được. Nhiếp Chính Vương nói rồi, cây sâm này xin Tể tướng từ từ dùng.”
Bùi Cảnh Tiên sửng sốt. Phụ thân hắn ta luôn coi trọng thanh danh, chuyện nuôi ngoại thất của ông ta kín kẽ tới mức thần không biết quỷ không hay, ngay cả mẫu thân hắn ta chưa chắc biết được.
Vậy mà Tạ Thư lại rõ như lòng bàn tay, rõ ràng đang ngầm nhắc nhở người khác đừng mong giở trò trước mặt hắn.
Bùi Cảnh Tiên nhìn cây dã sơn sâm, lòng lạnh đi không ít. Hắn ta là người thông minh, tất nhiên hiểu hậu quả của việc đối đầu với Tạ Thư. Vì thanh danh và tương lai của phủ Tể tướng, hắn ta chỉ đành “cảm kích rơi lệ” nhận lấy đồ bổ: “Đa tạ Nhiếp Chính Vương quan tâm.”
Chúng triều thần thấy vậy, không dám chậm trễ, vội vàng đồng thanh hô: “Nhiếp Chính Vương nhân hậu.”
Dù rời kinh ba năm, Nhiếp Chính Vương vẫn nắm rõ triều cục cùng mọi người không sai một chút nào. Hôm nay hắn còn chưa tới triều, chỉ vài ba câu đã biến Tể tướng thành con gà dùng để giết gà dọa khỉ. Phần tâm cơ thâm sâu này, người thường khó lòng sánh kịp.
Buổi triều hội kết thúc trong khung cảnh quân thần đồng lòng, hòa hợp vui vẻ. Chúng thần tốp năm tốp ba tản đi, trên đường khó tránh khỏi nhắc tới chuyện hôm nay.
“Sau chuyện này, ta thấy một thời gian nữa khó gặp Tể tướng.”
“Nói mới nhớ, Nhiếp Chính Vương bảo hôm nay có việc quan trọng cần xử lý. Rốt cuộc việc quan trọng ấy là chuyện gì?”
“Cũng đâu nghe nói biên cương báo nguy hay nơi nào xảy ra thiên tai.”
-
Lúc này, trước cổng phủ Trưởng công chúa, xe ngựa nối dài thành hàng. Hạ nhân ra vào không ngớt, khiêng từng rương hành lý chất lên xe.
Chính đường tiền sảnh, Tạ Thư ngồi yên, cúi đầu xem tấu chương.
Minh Nghi ngồi đối diện hắn, đang duỗi tay cho Ngọc Lê nhuộm móng tay.
Hai người ai làm việc nấy, không buồn để ý đối phương. Trên mặt đều viết rõ hai chữ lạnh nhạt, dường như trời sinh tính cách cả hai không hợp. Trong phòng yên lặng không tiếng động, giữa sự tĩnh mịch còn lộ vài phần ngượng ngập kỳ lạ.
Bầu không khí nặng nề, Ngọc Lê đứng giữa hai người, ngay cả thở mạnh cũng không dám. Nhuộm móng tay cho Minh Nghi xong, nàng ấy vội vàng lui xuống.
Minh Nghi giơ tay lên, hài lòng nhìn đầu ngón tay trắng ngần vừa nhuộm đỏ. Qua kẽ ngón tay thoáng thấy Tạ Thư, khóe môi nàng khẽ hạ xuống.
Tạ Thư nhận ra ánh mắt nàng, tay lật tấu chương khựng lại, ngước mắt nhìn sang: “Sao vậy?”
“Không sao.” Minh Nghi nhìn thẳng vào mắt hắn.
“Chỉ cảm thấy ba năm không gặp, dường như chàng thay đổi không ít.”
Tạ Thư ở Tây Bắc ba năm, gầy đi đôi chút. Đường nét chân mày và đôi mắt hắn càng thêm sâu sắc hơn trước, cũng tăng thêm vài phần phòng thái trầm ổn chín chắn.
Tạ Thư thuận miệng đáp một tiếng: “Vậy sao?”
Nghe giọng hắn nhàn nhạt, Minh Nghi mím môi quay đầu đi: “Già hơn một chút.”
Ánh mắt Tạ Thư rơi trên vạt váy tinh xảo thêu hoa phù dung bằng chỉ vàng đắt đỏ của nàng. Nghĩ tới mấy trăm rương y phục châu báu sắp chuyển tới Nghi Viên, hắn đáp lại một câu: “Nàng chẳng thay đổi chút nào.”
Vẫn xa hoa, kiêu căng, phiền phức như trước.
Minh Nghi nghe ra ý trong lời hắn, khẽ kéo khóe môi, không nói thêm gì.
Sau một hồi im lặng ngầm hiểu ý nhau, thị vệ Thừa Phong xuyên qua hành lang bước vào bẩm báo: “Vương gia, công chúa điện hạ, hành lý đều chất lên xe ngựa cả rồi, bất cứ lúc nào cũng có thể khởi hành tới Nghi Viên.”
Tạ Thư khép tấu chương, đứng dậy bước tới trước mặt Minh Nghi: “Đi thôi.”
Minh Nghi “ừ” một tiếng, theo sau bước chân hắn. Ánh mắt dừng trên tấm lưng cao thẳng của hắn, muốn nói gì đó nhưng không thốt nên lời.
Hai người một trước một sau đi dọc hành lang, suốt quãng đường không ai lên tiếng.
Cho tới khi tới bậc thềm trước cổng chính, Minh Nghi bỗng giả vờ ho khan mấy tiếng, đưa bàn tay vừa nhuộm đỏ, quý giá vô cùng, tới trước mặt Tạ Thư.
Tạ Thư có phần khó hiểu nhìn nàng.
“Nhìn ta làm gì? Còn không mau đỡ ta xuống bậc thềm.” Minh Nghi liếc hắn một cái.
“Chẳng phải nói sẽ làm phu thê ‘ân ái’ sao? Chàng tự giác một chút đi.”
Tạ Thư: “...”