Noãn các phía Đông sương phòng.
Tạ Thư ngồi ngay ngắn trước trường kỷ, nâng tay đậy một phiến vân mẫu* mỏng lên trên than hương đang cháy. Hương thơm cách lửa từ đáy lò sứ thanh hoa chậm rãi lan tỏa, khói hương vấn vít khắp phòng, tăng thêm vài phần tao nhã.
*Phiến vân mẫu (雲母薄片) là một tấm khoáng vật vân mẫu rất mỏng, thường được dùng trong các lò xông hương thời cổ. Vân mẫu (雲母) là một loại khoáng vật có thể tách thành những lớp rất mỏng, trong suốt hoặc bán trong suốt, chịu nhiệt tốt.
Minh Nghi ngồi trên ghế gỗ cách Tạ Thư không xa, lặng lẽ chờ hắn lên tiếng.
Tạ Thư thong thả đun nước, nghiền trà, đánh trà. Từng động tác pha trà đều trôi chảy tự nhiên như nước chảy mây trôi, mang theo phong thái điềm tĩnh.
Phong thái ấy bắt nguồn từ Tạ gia, dòng họ đại tộc trăm năm.
Tổ tiên Tạ gia vốn là quân sư của Thái Tổ. Năm xưa theo Thái Tổ nam chinh bắc chiến, dựng nên giang sơn Đại Chu. Sau khi Thái Tổ xưng đế, từng ban chiếu thư để ghi nhận công lao.
Gia phong Tạ gia thanh chính, căn cơ sâu dày. Vào thời kỳ hưng thịnh nhất, từng là thế gia hiển hách bậc nhất Đại Chu.
Nhưng thịnh cực tất suy. Sau đó vì khoa cử hưng khởi, con cháu đời sau không bằng tiền nhân cùng nhiều nguyên nhân khác, Tạ gia dần suy yếu, chuyển khỏi kinh thành, lui về vùng Cô Tô thuộc Giang Nam.
Về sau, tuy trong tộc có không ít người phong cốt thanh cao, danh tiếng vang xa, nhưng phần lớn chỉ giữ chức vụ nhàn tản.
Mãi tới khi Tạ Thư bước vào quan trường, phong vương bái tướng, Tạ gia ngủ đông nhiều năm mới khôi phục vinh quang lúc xưa.
Trong đó dĩ nhiên có công lao của tiền nhân trồng cây, nhưng không thể phủ nhận Tạ Thư vô cùng xuất sắc.
Tạ Thư xuất thân từ dòng chính Tạ gia. Từ thuở thiếu niên đã nổi danh thiên hạ. Năm mười bảy tuổi, hắn ngồi phía sau chỉ huy năm trăm thủy binh đánh tan tám nghìn thủy phỉ, từ đó một trận thành danh.
Luận tài học, trong giới sĩ tộc đương thời không ai vượt qua hắn.
Hắn không chỉ giỏi mưu lược, thông hiểu cổ kim, còn tinh thông cưỡi ngựa bắn cung cùng võ nghệ.
E rằng trên đời này không tìm ra thứ gì hắn không biết. Ngay cả cầm kỳ thư họa mà hắn tự nhận chỉ “biết sơ đôi chút”, trình độ cũng khiến vô số người chỉ có thể ngước nhìn.
Lại thêm dung mạo tuấn mỹ, phong thái xuất trần, thanh nhã như tiên, khó tránh khiến người ta cảm thán ông trời quá mức thiên vị hắn.
Người như hắn, đương nhiên bên cạnh không thiếu kẻ ngưỡng mộ.
Nhưng ngưỡng mộ thì ngưỡng mộ, phần lớn mọi người đều không dám đến gần.
Không vì nguyên nhân nào khác, chỉ vì khí chất của Tạ Thư vốn như vậy, luôn khiến người ta cảm thấy lạnh nhạt, thanh cao, xa không thể với tới, như thể tới gần hắn cũng là một loại khinh nhờn.
Nhưng mặc dù Tạ Thư trông rất khó tiếp cận, trong triều lại cực kỳ được lòng người, gần như không ai không khâm phục hắn.
Ngay cả Tiết Thái phó ngày thường cố chấp nhất, mang đầy thành kiến với thế hệ quan viên trẻ tuổi, cũng không tiếc lời khen ngợi hắn.
Rất ít người có thể giống hắn, tung hoành triều đình như cá gặp nước, tay nắm quyền lớn nhưng vẫn được lòng người.
Minh Nghi đưa mắt nhìn sang Tạ Thư. Sau khi chén trà qua tay hắn được điều hòa hoàn mỹ, lớp bọt trên mặt mịn dày như mây.
Tạ Thư nhẹ nhàng đẩy chén trà tới trước mặt Minh Nghi, làm động tác “mời”, nói: “Điện hạ mời dùng.”
Động tác của hắn khách khí chu toàn, nhưng vẫn mang theo vài phần xa cách nhàn nhạt.
Cái gọi là tiên lễ hậu binh. Trước tiên dành đủ lễ nghĩa cho nàng, tiếp theo hẳn là nói chuyện chính sự.
Minh Nghi nhận lấy chén trà, thất thần nhìn lớp bọt nổi trên mặt trà. Nghĩ tới khả năng Tạ Thư vì muốn hòa ly với nàng nên cố ý trở về từ Tây Bắc sớm hơn dự định, trong lòng nàng không rõ là cảm giác gì.
Nàng ngẩng đầu nhìn hắn.
Tấm lưng hắn thẳng tắp, vai rộng chân dài, tư thế cực kỳ đẹp mắt. Ngay cả động tác nâng chén trà cũng mang theo vẻ tao nhã khó nói thành lời.
Ánh trăng non vừa lên từ ngoài cửa sổ chiếu vào, phủ lên gương mặt nghiêng như ngọc của hắn một tầng sáng dịu dàng, nhưng vẫn không che được vẻ thanh ngạo và lạnh nhạt nơi tận sâu cốt tủy.
Chờ đợi hồi lâu, cuối cùng Tạ Thư cũng chậm rãi lên tiếng: “Chuyện hòa ly...”
Nghe hai chữ “hòa ly” thốt ra từ miệng Tạ Thư, Minh Nghi siết chặt chén trà trong tay. Nàng kiêu ngạo nâng cằm, cướp lời hắn: “Chàng yên tâm. Ta đã nhờ người soạn xong thư hòa ly. Chỉ cần chàng muốn, chúng ta lập tức có thể...” chia xa.
“Ta không muốn.”
Tạ Thư ngước mắt.
Ba chữ ấy như cơn cuồng phong cuốn thẳng vào tai Minh Nghi.
Hô hấp nàng đột ngột ngưng trệ. Hai chữ “chia xa” còn chưa kịp nói ra đã bị nuốt ngược trở vào.
Nàng mở to mắt nhìn Tạ Thư. Hàng mi dài không ngừng run rẩy. Hàm răng trắng ngần cắn tới môi đỏ ửng. Nàng quay mặt đi, hỏi: “Vì... vì sao? Trong gia thư chàng viết ‘đợi ta trở về’, chẳng phải có ý vừa trở về sẽ lập tức hòa ly sao?”
“Không phải.”
Tạ Thư ngừng một chút rồi phủ nhận: “Là đợi ta trở về, chúng ta nói chuyện đàng hoàng.”
Đôi mày thanh tú đậm nhạt hài hòa của Minh Nghi hơi nhíu lại. Nàng hừ nhẹ một tiếng: “Vậy vì sao chàng không viết rõ ràng?”
Ánh mắt Tạ Thư lướt qua Minh Nghi.
Hắn trầm mặc rất lâu, không giải thích điều gì, chỉ áy náy nói: “Là ta sơ suất.”
Ngừng một lát, hắn lại nói: “Nhưng quả thực có vài chuyện không tiện nói rõ trong thư.”
Minh Nghi nâng chén trà, nghi hoặc ngước mắt nhìn hắn: “Là chuyện gì?”
“Điện hạ có biết chuyện Bình Ninh Hầu và Lệnh Quốc Công trở mặt với nhau không?”
Tạ Thư hỏi.
“Có nghe qua đôi chút.”
Minh Nghi nhớ tới không lâu trước đây, Trình Nhân từng nhắc qua chuyện này.
Ba năm trước muội muội duy nhất của Bình Ninh Hầu gả vào phủ Lệnh Quốc Công. Hai nhà vốn là thông gia. Nhưng gần đây muội muội của Bình Ninh Hầu nhất quyết đòi hòa ly, vì chuyện đó mà hai nhà náo loạn tới mức quan hệ cực kỳ căng thẳng.
Tạ Thư nhìn Minh Nghi, nói: “Gần đây triều đình tranh cãi không ngừng cũng vì chuyện này.”
Trong lòng Minh Nghi sinh nghi.
Ở Đại Chu, chuyện quyền quý hòa ly rồi tái giá không phải hiếm thấy. Theo lẽ thường, dù hai nhà có bất hòa riêng tư cũng không tới mức khiến triều đình không được yên ổn.
Tạ Thư nhìn ra suy nghĩ của nàng, bèn giải thích: “Dĩ nhiên chuyện hòa ly thông thường không tới mức đó. Nhưng lần này hai nhà trở mặt, một bên là tân quý được Tân Đế trọng dụng, một bên là thế gia quyền quý lâu đời có nền móng sâu dày. Điện hạ hẳn hiểu rõ, việc hai nhà bất hòa vì hòa ly chỉ là ngòi nổ. Thứ thật sự khơi lên sóng gió triều đình chính là ân oán giữa tân triều và tiền triều.”
Tranh chấp giữa tân triều và tiền triều vốn đã tồn tại từ rất lâu.
Muốn nói tới chuyện này, phải bắt đầu từ lúc phụ hoàng của Minh Nghi lâm trọng bệnh.
Phụ hoàng của Minh Nghi, Thành Tuyên Đế, từ khi đăng cơ đã vì Đại Chu mà dốc hết tâm huyết, cúc cung tận tụy.
Dưới sự cai trị của người, Đại Chu ngày càng hưng thịnh, bách tính an cư lạc nghiệp. Có thể nói là một vị minh quân hiếm có.
Điều duy nhất thường bị người đời chỉ trích chính là người quá mức si tình.
Sự si tình ấy nếu đặt trên người một nam nhân bình thường, đó là phẩm chất đáng được ca ngợi.
Nhưng đặt trên người quân vương của một nước, chưa chắc là chuyện tốt.
Là quốc quân, người có trách nhiệm sinh dưỡng hoàng tự.
Thành Tuyên Đế chỉ sủng ái duy nhất chính thê Vương thị. Hậu cung gần như chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Sau khi Vương thị qua đời, hầu như ông không còn bước chân vào hậu cung nữa.
Bởi vậy con nối dõi dưới gối Thành Tuyên Đế vô cùng ít ỏi, chỉ có duy nhất một nữ nhi là Minh Nghi.
Có điều khi ấy Thành Tuyên Đế đang độ tráng niên, các đại thần cũng không tiện nhiều lần nhắc tới chuyện lập người kế vị.
Không ai ngờ, bốn năm trước đột nhiên vị hoàng đế luôn khỏe mạnh cường kiện ấy lại lâm bệnh nguy kịch.
Ngôi vị Đông cung bỏ trống. Thành Tuyên Đế vừa nguy kịch, vài vị tông thất ôm dã tâm lớn, ngấp nghé hoàng vị từ lâu lập tức phát động binh biến, sử gọi là “Loạn Tam Vương”.
Khoảng thời gian ấy là quãng ngày không muốn nhớ lại nhất trong đời Minh Nghi. Nàng cùng phụ hoàng bị giam trong cung thất kín mít không một khe hở, không có nước, không có lương thực. Phụ hoàng không ngừng ho ra máu. Nàng nén nước mắt, dùng tay áo lau vết máu cho người, canh giữ bên cạnh phụ hoàng, gắng gượng không ngã xuống.
Nàng ở trong cung thất tối tăm không thấy ánh mặt trời, không phân biệt nổi ngày hay đêm, chỉ biết bên ngoài mưa mãi không ngừng.
Sau đó đám người kia không chờ nổi nữa, lấy tính mạng nàng uy hiếp phụ hoàng, nói rằng nếu không viết chiếu thư truyền ngôi sẽ giết nàng.
Minh Nghi rất sợ chết.
Nhưng vào khoảnh khắc ấy, nhìn lưỡi đao sắc bén kề trên cổ mình, nàng bỗng thấy nhẹ nhõm.
Nghĩ thử xem, sau khi nàng chết, hẳn sẽ có người ca tụng nàng là một vị công chúa thà chết không khuất phục. Ít nhất cũng không lo thiếu hương đèn vàng mã.
Đúng lúc ngàn cân treo sợi tóc, Tạ Thư dẫn binh mã của Giang Đô Vương Minh Triệt tới cứu giá, một mũi tên xuyên thẳng đầu phản thần loạn tặc, cứu Minh Nghi.
Một trận cung biến khép lại.
Minh Nghi chật vật đứng trong màn mưa, dưới chân là dòng máu đang chảy, toàn thân lấm đầy bùn đất. Nàng nghĩ, cả đời này chắc sẽ không có thời khắc nào vừa xấu xí vừa nhếch nhác hơn thế.
Đúng lúc ấy, Tạ Thư đi ngang qua bên cạnh nàng.
Hắn nhìn bộ dạng chật vật của nàng một cái, không nói gì, chỉ đưa chiếc ô trong tay cho nàng.
Minh Nghi nhận lấy chiếc ô, cúi đầu. Rốt cuộc nước mắt nhịn rất lâu không thể giữ nổi, rơi xuống từ hốc mắt.
Có lẽ vì may mắn sống sót sau tai kiếp.
Cũng có lẽ vì lần đầu tiên phải dùng bộ dạng nhếch nhác như vậy đối diện người khác nên nàng cảm thấy khó xử.
Không lâu sau trận cung biến, phụ hoàng của Minh Nghi qua đời.
Trước lúc lâm chung, phụ hoàng nàng để lại di chiếu, truyền ngôi cho tôn tử Minh Triệt.
Đó cũng là chuyện bất đắc dĩ.
Những tông thất không bị cuốn vào trận cung biến ấy, mà có tư cách kế vị, vốn chẳng còn mấy người. Trong số đó, Minh Triệt là người có phẩm hạnh xuất chúng nhất.
Sau khi Tân Đế đăng cơ, gia thần bên cạnh Tân Đế cũng theo đó một bước lên mây, trở thành tân quý trong triều.
Còn những lão thần từng theo tiên đế lại mang nhiều thành kiến với Minh Triệt, một vị tông thất sa sút bước lên ngôi vị đế vương. Bọn họ càng xem thường đám tân quý xuất thân bình thường ấy.
Mấy năm nay, tân triều và tiền triều thường xuyên phát sinh tranh chấp. Nếu cứ kéo dài như vậy, sớm muộn cũng khiến triều cương bất ổn.
Minh Triệt còn nhỏ tuổi, việc giám quốc do cữu cữu y là Tạ Thư đảm nhiệm.
Năm đó Tạ Thư cưới Minh Nghi, không chỉ vì đêm “Xuân Tiêu Độ” kia, còn vì muốn mượn cuộc liên hôn này trấn an thế lực cũ của tiên đế, dập tắt tranh chấp giữa tân triều và tiền triều.
Tạ Thư bất đắc dĩ nói: “Hiện giờ đúng lúc mấu chốt, nếu nàng và ta hòa ly, e rằng tranh chấp sẽ nổi lên lần nữa, chỉ sợ không ổn. Chi bằng... chuyện ấy để bàn sau.”
“Cũng đúng.”
Minh Nghi gật đầu, cẩn thận tính toán trong lòng một lượt.
Tạ Thư không muốn tranh chấp giữa tân triều và tiền triều càng lúc càng nghiêm trọng.
Mà nàng cũng không muốn cho phu phụ Thôi thị có cơ hội xem chuyện hòa ly của nàng làm trò cười, càng không muốn trở thành trò cười của cả kinh thành.
“Vậy trước mắt không hòa ly nữa.”
Minh Nghi nói.
Như vậy cũng xem như mỗi người đạt được điều mình cần, đôi bên cùng có lợi.
Cũng không phải nàng không thể nhịn thêm một thời gian.
Tạ Thư không ngờ Minh Nghi đồng ý nhanh như vậy, có chút bất ngờ, khẽ sững người.
Nhưng hắn không hỏi thêm, chỉ nói: “Nếu đã vậy, có một chuyện mong Điện hạ có thể đáp ứng ta.”
Vấn đề lớn vừa được giải quyết, tâm trạng Minh Nghi chuyển từ âm u sang tươi sáng. Đây chính là lúc nàng dễ nói chuyện nhất.
Nàng chớp hàng mi dài, vô cùng hòa nhã nhìn Tạ Thư: “Chuyện gì?”
Tạ Thư khẽ xoay chén trà trong tay, thần sắc nhàn nhạt: “Vì ổn định triều cương, ta hy vọng từ nay về sau nàng và ta có thể làm một đôi phu thê hòa thuận.”
Minh Nghi thoáng ngẩn người.
Phu thê hòa thuận?
Thế nào mới được xem là phu thê hòa thuận?
Trong kinh thành, đôi phu thê hoà nhất hẳn là Bình Ninh Hầu và phu nhân. Hai người cả ngày quấn quýt không rời, chàng chàng thiếp thiếp, vô cùng ân ái.
Ý của Tạ Thư là muốn cùng nàng giống như vậy...
Minh Nghi liếc nhìn gương mặt bình tĩnh của Tạ Thư.
Nhưng trên gương mặt ấy chỉ toàn vẻ lạnh nhạt như đang xử việc công.
Do dự một lát, Minh Nghi thử dò hỏi: “Ý chàng là, muốn diễn trò cho người ngoài thấy chúng ta là phu thê ân ái?”
Ân ái?
Tạ Thư trầm mặc.
Ý nghĩa ban đầu của hai chữ “hòa thuận” trong lời hắn chỉ là hy vọng trước khi hòa ly, hai người đừng khiến đối phương mất mặt hay khó xử trước mặt người ngoài.
Dường như Minh Nghi đã hiểu sai ý hắn.
Nhưng quả thật, trong cuộc liên hôn này, so với hai chữ “hòa thuận” xa cách, “ân ái” giữa phu thê càng có lợi cho việc cân bằng lợi ích các bên.
Tạ Thư ngước mắt nhìn Minh Nghi, thẳng thắn nói: “Đối với cục diện hiện nay, đương nhiên quan hệ giữa nàng và ta càng vững chắc càng tốt...”
Nhưng cũng không cần cố tình giả vờ ân ái.
Tạ Thư khẽ hít một hơi, nửa câu sau còn chưa kịp nói ra, đã nghe Minh Nghi quay mặt đi, khẽ đáp: “Cũng được thôi. Nếu chàng đã đề nghị, ta cũng không phải không thể phối hợp cùng chàng ‘ân ái’ một chút.”
“...”
Tạ Thư nhìn Minh Nghi, nhất thời không biết nên nói gì.
Minh Nghi đang đau đầu vì Thôi Thư Yểu không dễ đối phó. Đề nghị “giả vờ ân ái” này của Tạ Thư vừa khéo hợp ý nàng.
Chỉ là phải làm sao mới giống một đôi phu thê ân ái?
Minh Nghi suy nghĩ cẩn thận rồi nói: “Nếu vậy, ngày mai ta sẽ dọn về Nghi Viên.”
Nghi Viên vốn là nơi ở cũ của một vị quyền quý hiển hách tiền triều, xây dựng theo phong cách lâm viên Cô Tô, thanh nhã tinh xảo, cổ kính tự nhiên.
Năm đó Minh Nghi và Tạ Thư thành thân, Tiểu Hoàng đế ban Nghi Viên cho hai người làm nơi ở sau hôn lễ.
Nhưng Minh Nghi chê bài trí trong Nghi Viên quá cổ kính cũ kỹ, sau khi thành thân vẫn luôn ở phủ Trưởng công chúa, chưa từng đặt chân tới Nghi Viên.
Giờ nếu muốn làm một đôi phu thê “ân ái” trước mặt người ngoài, việc chia phủ ở riêng rõ ràng không thích hợp.
Hơn nữa, càng chuyển về sớm càng tốt.
Ngoài ra, muốn thể hiện tình cảm phu thê, tốt nhất...
“Chàng đích thân tới đón ta trở về.”
Minh Nghi nhướng mày, ghé tới gần Tạ Thư nói.
Tạ Thư ngồi ngay ngắn trước trường kỷ, nâng tay đậy một phiến vân mẫu* mỏng lên trên than hương đang cháy. Hương thơm cách lửa từ đáy lò sứ thanh hoa chậm rãi lan tỏa, khói hương vấn vít khắp phòng, tăng thêm vài phần tao nhã.
*Phiến vân mẫu (雲母薄片) là một tấm khoáng vật vân mẫu rất mỏng, thường được dùng trong các lò xông hương thời cổ. Vân mẫu (雲母) là một loại khoáng vật có thể tách thành những lớp rất mỏng, trong suốt hoặc bán trong suốt, chịu nhiệt tốt.
Minh Nghi ngồi trên ghế gỗ cách Tạ Thư không xa, lặng lẽ chờ hắn lên tiếng.
Tạ Thư thong thả đun nước, nghiền trà, đánh trà. Từng động tác pha trà đều trôi chảy tự nhiên như nước chảy mây trôi, mang theo phong thái điềm tĩnh.
Phong thái ấy bắt nguồn từ Tạ gia, dòng họ đại tộc trăm năm.
Tổ tiên Tạ gia vốn là quân sư của Thái Tổ. Năm xưa theo Thái Tổ nam chinh bắc chiến, dựng nên giang sơn Đại Chu. Sau khi Thái Tổ xưng đế, từng ban chiếu thư để ghi nhận công lao.
Gia phong Tạ gia thanh chính, căn cơ sâu dày. Vào thời kỳ hưng thịnh nhất, từng là thế gia hiển hách bậc nhất Đại Chu.
Nhưng thịnh cực tất suy. Sau đó vì khoa cử hưng khởi, con cháu đời sau không bằng tiền nhân cùng nhiều nguyên nhân khác, Tạ gia dần suy yếu, chuyển khỏi kinh thành, lui về vùng Cô Tô thuộc Giang Nam.
Về sau, tuy trong tộc có không ít người phong cốt thanh cao, danh tiếng vang xa, nhưng phần lớn chỉ giữ chức vụ nhàn tản.
Mãi tới khi Tạ Thư bước vào quan trường, phong vương bái tướng, Tạ gia ngủ đông nhiều năm mới khôi phục vinh quang lúc xưa.
Trong đó dĩ nhiên có công lao của tiền nhân trồng cây, nhưng không thể phủ nhận Tạ Thư vô cùng xuất sắc.
Tạ Thư xuất thân từ dòng chính Tạ gia. Từ thuở thiếu niên đã nổi danh thiên hạ. Năm mười bảy tuổi, hắn ngồi phía sau chỉ huy năm trăm thủy binh đánh tan tám nghìn thủy phỉ, từ đó một trận thành danh.
Luận tài học, trong giới sĩ tộc đương thời không ai vượt qua hắn.
Hắn không chỉ giỏi mưu lược, thông hiểu cổ kim, còn tinh thông cưỡi ngựa bắn cung cùng võ nghệ.
E rằng trên đời này không tìm ra thứ gì hắn không biết. Ngay cả cầm kỳ thư họa mà hắn tự nhận chỉ “biết sơ đôi chút”, trình độ cũng khiến vô số người chỉ có thể ngước nhìn.
Lại thêm dung mạo tuấn mỹ, phong thái xuất trần, thanh nhã như tiên, khó tránh khiến người ta cảm thán ông trời quá mức thiên vị hắn.
Người như hắn, đương nhiên bên cạnh không thiếu kẻ ngưỡng mộ.
Nhưng ngưỡng mộ thì ngưỡng mộ, phần lớn mọi người đều không dám đến gần.
Không vì nguyên nhân nào khác, chỉ vì khí chất của Tạ Thư vốn như vậy, luôn khiến người ta cảm thấy lạnh nhạt, thanh cao, xa không thể với tới, như thể tới gần hắn cũng là một loại khinh nhờn.
Nhưng mặc dù Tạ Thư trông rất khó tiếp cận, trong triều lại cực kỳ được lòng người, gần như không ai không khâm phục hắn.
Ngay cả Tiết Thái phó ngày thường cố chấp nhất, mang đầy thành kiến với thế hệ quan viên trẻ tuổi, cũng không tiếc lời khen ngợi hắn.
Rất ít người có thể giống hắn, tung hoành triều đình như cá gặp nước, tay nắm quyền lớn nhưng vẫn được lòng người.
Minh Nghi đưa mắt nhìn sang Tạ Thư. Sau khi chén trà qua tay hắn được điều hòa hoàn mỹ, lớp bọt trên mặt mịn dày như mây.
Tạ Thư nhẹ nhàng đẩy chén trà tới trước mặt Minh Nghi, làm động tác “mời”, nói: “Điện hạ mời dùng.”
Động tác của hắn khách khí chu toàn, nhưng vẫn mang theo vài phần xa cách nhàn nhạt.
Cái gọi là tiên lễ hậu binh. Trước tiên dành đủ lễ nghĩa cho nàng, tiếp theo hẳn là nói chuyện chính sự.
Minh Nghi nhận lấy chén trà, thất thần nhìn lớp bọt nổi trên mặt trà. Nghĩ tới khả năng Tạ Thư vì muốn hòa ly với nàng nên cố ý trở về từ Tây Bắc sớm hơn dự định, trong lòng nàng không rõ là cảm giác gì.
Nàng ngẩng đầu nhìn hắn.
Tấm lưng hắn thẳng tắp, vai rộng chân dài, tư thế cực kỳ đẹp mắt. Ngay cả động tác nâng chén trà cũng mang theo vẻ tao nhã khó nói thành lời.
Ánh trăng non vừa lên từ ngoài cửa sổ chiếu vào, phủ lên gương mặt nghiêng như ngọc của hắn một tầng sáng dịu dàng, nhưng vẫn không che được vẻ thanh ngạo và lạnh nhạt nơi tận sâu cốt tủy.
Chờ đợi hồi lâu, cuối cùng Tạ Thư cũng chậm rãi lên tiếng: “Chuyện hòa ly...”
Nghe hai chữ “hòa ly” thốt ra từ miệng Tạ Thư, Minh Nghi siết chặt chén trà trong tay. Nàng kiêu ngạo nâng cằm, cướp lời hắn: “Chàng yên tâm. Ta đã nhờ người soạn xong thư hòa ly. Chỉ cần chàng muốn, chúng ta lập tức có thể...” chia xa.
“Ta không muốn.”
Tạ Thư ngước mắt.
Ba chữ ấy như cơn cuồng phong cuốn thẳng vào tai Minh Nghi.
Hô hấp nàng đột ngột ngưng trệ. Hai chữ “chia xa” còn chưa kịp nói ra đã bị nuốt ngược trở vào.
Nàng mở to mắt nhìn Tạ Thư. Hàng mi dài không ngừng run rẩy. Hàm răng trắng ngần cắn tới môi đỏ ửng. Nàng quay mặt đi, hỏi: “Vì... vì sao? Trong gia thư chàng viết ‘đợi ta trở về’, chẳng phải có ý vừa trở về sẽ lập tức hòa ly sao?”
“Không phải.”
Tạ Thư ngừng một chút rồi phủ nhận: “Là đợi ta trở về, chúng ta nói chuyện đàng hoàng.”
Đôi mày thanh tú đậm nhạt hài hòa của Minh Nghi hơi nhíu lại. Nàng hừ nhẹ một tiếng: “Vậy vì sao chàng không viết rõ ràng?”
Ánh mắt Tạ Thư lướt qua Minh Nghi.
Hắn trầm mặc rất lâu, không giải thích điều gì, chỉ áy náy nói: “Là ta sơ suất.”
Ngừng một lát, hắn lại nói: “Nhưng quả thực có vài chuyện không tiện nói rõ trong thư.”
Minh Nghi nâng chén trà, nghi hoặc ngước mắt nhìn hắn: “Là chuyện gì?”
“Điện hạ có biết chuyện Bình Ninh Hầu và Lệnh Quốc Công trở mặt với nhau không?”
Tạ Thư hỏi.
“Có nghe qua đôi chút.”
Minh Nghi nhớ tới không lâu trước đây, Trình Nhân từng nhắc qua chuyện này.
Ba năm trước muội muội duy nhất của Bình Ninh Hầu gả vào phủ Lệnh Quốc Công. Hai nhà vốn là thông gia. Nhưng gần đây muội muội của Bình Ninh Hầu nhất quyết đòi hòa ly, vì chuyện đó mà hai nhà náo loạn tới mức quan hệ cực kỳ căng thẳng.
Tạ Thư nhìn Minh Nghi, nói: “Gần đây triều đình tranh cãi không ngừng cũng vì chuyện này.”
Trong lòng Minh Nghi sinh nghi.
Ở Đại Chu, chuyện quyền quý hòa ly rồi tái giá không phải hiếm thấy. Theo lẽ thường, dù hai nhà có bất hòa riêng tư cũng không tới mức khiến triều đình không được yên ổn.
Tạ Thư nhìn ra suy nghĩ của nàng, bèn giải thích: “Dĩ nhiên chuyện hòa ly thông thường không tới mức đó. Nhưng lần này hai nhà trở mặt, một bên là tân quý được Tân Đế trọng dụng, một bên là thế gia quyền quý lâu đời có nền móng sâu dày. Điện hạ hẳn hiểu rõ, việc hai nhà bất hòa vì hòa ly chỉ là ngòi nổ. Thứ thật sự khơi lên sóng gió triều đình chính là ân oán giữa tân triều và tiền triều.”
Tranh chấp giữa tân triều và tiền triều vốn đã tồn tại từ rất lâu.
Muốn nói tới chuyện này, phải bắt đầu từ lúc phụ hoàng của Minh Nghi lâm trọng bệnh.
Phụ hoàng của Minh Nghi, Thành Tuyên Đế, từ khi đăng cơ đã vì Đại Chu mà dốc hết tâm huyết, cúc cung tận tụy.
Dưới sự cai trị của người, Đại Chu ngày càng hưng thịnh, bách tính an cư lạc nghiệp. Có thể nói là một vị minh quân hiếm có.
Điều duy nhất thường bị người đời chỉ trích chính là người quá mức si tình.
Sự si tình ấy nếu đặt trên người một nam nhân bình thường, đó là phẩm chất đáng được ca ngợi.
Nhưng đặt trên người quân vương của một nước, chưa chắc là chuyện tốt.
Là quốc quân, người có trách nhiệm sinh dưỡng hoàng tự.
Thành Tuyên Đế chỉ sủng ái duy nhất chính thê Vương thị. Hậu cung gần như chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Sau khi Vương thị qua đời, hầu như ông không còn bước chân vào hậu cung nữa.
Bởi vậy con nối dõi dưới gối Thành Tuyên Đế vô cùng ít ỏi, chỉ có duy nhất một nữ nhi là Minh Nghi.
Có điều khi ấy Thành Tuyên Đế đang độ tráng niên, các đại thần cũng không tiện nhiều lần nhắc tới chuyện lập người kế vị.
Không ai ngờ, bốn năm trước đột nhiên vị hoàng đế luôn khỏe mạnh cường kiện ấy lại lâm bệnh nguy kịch.
Ngôi vị Đông cung bỏ trống. Thành Tuyên Đế vừa nguy kịch, vài vị tông thất ôm dã tâm lớn, ngấp nghé hoàng vị từ lâu lập tức phát động binh biến, sử gọi là “Loạn Tam Vương”.
Khoảng thời gian ấy là quãng ngày không muốn nhớ lại nhất trong đời Minh Nghi. Nàng cùng phụ hoàng bị giam trong cung thất kín mít không một khe hở, không có nước, không có lương thực. Phụ hoàng không ngừng ho ra máu. Nàng nén nước mắt, dùng tay áo lau vết máu cho người, canh giữ bên cạnh phụ hoàng, gắng gượng không ngã xuống.
Nàng ở trong cung thất tối tăm không thấy ánh mặt trời, không phân biệt nổi ngày hay đêm, chỉ biết bên ngoài mưa mãi không ngừng.
Sau đó đám người kia không chờ nổi nữa, lấy tính mạng nàng uy hiếp phụ hoàng, nói rằng nếu không viết chiếu thư truyền ngôi sẽ giết nàng.
Minh Nghi rất sợ chết.
Nhưng vào khoảnh khắc ấy, nhìn lưỡi đao sắc bén kề trên cổ mình, nàng bỗng thấy nhẹ nhõm.
Nghĩ thử xem, sau khi nàng chết, hẳn sẽ có người ca tụng nàng là một vị công chúa thà chết không khuất phục. Ít nhất cũng không lo thiếu hương đèn vàng mã.
Đúng lúc ngàn cân treo sợi tóc, Tạ Thư dẫn binh mã của Giang Đô Vương Minh Triệt tới cứu giá, một mũi tên xuyên thẳng đầu phản thần loạn tặc, cứu Minh Nghi.
Một trận cung biến khép lại.
Minh Nghi chật vật đứng trong màn mưa, dưới chân là dòng máu đang chảy, toàn thân lấm đầy bùn đất. Nàng nghĩ, cả đời này chắc sẽ không có thời khắc nào vừa xấu xí vừa nhếch nhác hơn thế.
Đúng lúc ấy, Tạ Thư đi ngang qua bên cạnh nàng.
Hắn nhìn bộ dạng chật vật của nàng một cái, không nói gì, chỉ đưa chiếc ô trong tay cho nàng.
Minh Nghi nhận lấy chiếc ô, cúi đầu. Rốt cuộc nước mắt nhịn rất lâu không thể giữ nổi, rơi xuống từ hốc mắt.
Có lẽ vì may mắn sống sót sau tai kiếp.
Cũng có lẽ vì lần đầu tiên phải dùng bộ dạng nhếch nhác như vậy đối diện người khác nên nàng cảm thấy khó xử.
Không lâu sau trận cung biến, phụ hoàng của Minh Nghi qua đời.
Trước lúc lâm chung, phụ hoàng nàng để lại di chiếu, truyền ngôi cho tôn tử Minh Triệt.
Đó cũng là chuyện bất đắc dĩ.
Những tông thất không bị cuốn vào trận cung biến ấy, mà có tư cách kế vị, vốn chẳng còn mấy người. Trong số đó, Minh Triệt là người có phẩm hạnh xuất chúng nhất.
Sau khi Tân Đế đăng cơ, gia thần bên cạnh Tân Đế cũng theo đó một bước lên mây, trở thành tân quý trong triều.
Còn những lão thần từng theo tiên đế lại mang nhiều thành kiến với Minh Triệt, một vị tông thất sa sút bước lên ngôi vị đế vương. Bọn họ càng xem thường đám tân quý xuất thân bình thường ấy.
Mấy năm nay, tân triều và tiền triều thường xuyên phát sinh tranh chấp. Nếu cứ kéo dài như vậy, sớm muộn cũng khiến triều cương bất ổn.
Minh Triệt còn nhỏ tuổi, việc giám quốc do cữu cữu y là Tạ Thư đảm nhiệm.
Năm đó Tạ Thư cưới Minh Nghi, không chỉ vì đêm “Xuân Tiêu Độ” kia, còn vì muốn mượn cuộc liên hôn này trấn an thế lực cũ của tiên đế, dập tắt tranh chấp giữa tân triều và tiền triều.
Tạ Thư bất đắc dĩ nói: “Hiện giờ đúng lúc mấu chốt, nếu nàng và ta hòa ly, e rằng tranh chấp sẽ nổi lên lần nữa, chỉ sợ không ổn. Chi bằng... chuyện ấy để bàn sau.”
“Cũng đúng.”
Minh Nghi gật đầu, cẩn thận tính toán trong lòng một lượt.
Tạ Thư không muốn tranh chấp giữa tân triều và tiền triều càng lúc càng nghiêm trọng.
Mà nàng cũng không muốn cho phu phụ Thôi thị có cơ hội xem chuyện hòa ly của nàng làm trò cười, càng không muốn trở thành trò cười của cả kinh thành.
“Vậy trước mắt không hòa ly nữa.”
Minh Nghi nói.
Như vậy cũng xem như mỗi người đạt được điều mình cần, đôi bên cùng có lợi.
Cũng không phải nàng không thể nhịn thêm một thời gian.
Tạ Thư không ngờ Minh Nghi đồng ý nhanh như vậy, có chút bất ngờ, khẽ sững người.
Nhưng hắn không hỏi thêm, chỉ nói: “Nếu đã vậy, có một chuyện mong Điện hạ có thể đáp ứng ta.”
Vấn đề lớn vừa được giải quyết, tâm trạng Minh Nghi chuyển từ âm u sang tươi sáng. Đây chính là lúc nàng dễ nói chuyện nhất.
Nàng chớp hàng mi dài, vô cùng hòa nhã nhìn Tạ Thư: “Chuyện gì?”
Tạ Thư khẽ xoay chén trà trong tay, thần sắc nhàn nhạt: “Vì ổn định triều cương, ta hy vọng từ nay về sau nàng và ta có thể làm một đôi phu thê hòa thuận.”
Minh Nghi thoáng ngẩn người.
Phu thê hòa thuận?
Thế nào mới được xem là phu thê hòa thuận?
Trong kinh thành, đôi phu thê hoà nhất hẳn là Bình Ninh Hầu và phu nhân. Hai người cả ngày quấn quýt không rời, chàng chàng thiếp thiếp, vô cùng ân ái.
Ý của Tạ Thư là muốn cùng nàng giống như vậy...
Minh Nghi liếc nhìn gương mặt bình tĩnh của Tạ Thư.
Nhưng trên gương mặt ấy chỉ toàn vẻ lạnh nhạt như đang xử việc công.
Do dự một lát, Minh Nghi thử dò hỏi: “Ý chàng là, muốn diễn trò cho người ngoài thấy chúng ta là phu thê ân ái?”
Ân ái?
Tạ Thư trầm mặc.
Ý nghĩa ban đầu của hai chữ “hòa thuận” trong lời hắn chỉ là hy vọng trước khi hòa ly, hai người đừng khiến đối phương mất mặt hay khó xử trước mặt người ngoài.
Dường như Minh Nghi đã hiểu sai ý hắn.
Nhưng quả thật, trong cuộc liên hôn này, so với hai chữ “hòa thuận” xa cách, “ân ái” giữa phu thê càng có lợi cho việc cân bằng lợi ích các bên.
Tạ Thư ngước mắt nhìn Minh Nghi, thẳng thắn nói: “Đối với cục diện hiện nay, đương nhiên quan hệ giữa nàng và ta càng vững chắc càng tốt...”
Nhưng cũng không cần cố tình giả vờ ân ái.
Tạ Thư khẽ hít một hơi, nửa câu sau còn chưa kịp nói ra, đã nghe Minh Nghi quay mặt đi, khẽ đáp: “Cũng được thôi. Nếu chàng đã đề nghị, ta cũng không phải không thể phối hợp cùng chàng ‘ân ái’ một chút.”
“...”
Tạ Thư nhìn Minh Nghi, nhất thời không biết nên nói gì.
Minh Nghi đang đau đầu vì Thôi Thư Yểu không dễ đối phó. Đề nghị “giả vờ ân ái” này của Tạ Thư vừa khéo hợp ý nàng.
Chỉ là phải làm sao mới giống một đôi phu thê ân ái?
Minh Nghi suy nghĩ cẩn thận rồi nói: “Nếu vậy, ngày mai ta sẽ dọn về Nghi Viên.”
Nghi Viên vốn là nơi ở cũ của một vị quyền quý hiển hách tiền triều, xây dựng theo phong cách lâm viên Cô Tô, thanh nhã tinh xảo, cổ kính tự nhiên.
Năm đó Minh Nghi và Tạ Thư thành thân, Tiểu Hoàng đế ban Nghi Viên cho hai người làm nơi ở sau hôn lễ.
Nhưng Minh Nghi chê bài trí trong Nghi Viên quá cổ kính cũ kỹ, sau khi thành thân vẫn luôn ở phủ Trưởng công chúa, chưa từng đặt chân tới Nghi Viên.
Giờ nếu muốn làm một đôi phu thê “ân ái” trước mặt người ngoài, việc chia phủ ở riêng rõ ràng không thích hợp.
Hơn nữa, càng chuyển về sớm càng tốt.
Ngoài ra, muốn thể hiện tình cảm phu thê, tốt nhất...
“Chàng đích thân tới đón ta trở về.”
Minh Nghi nhướng mày, ghé tới gần Tạ Thư nói.