MỸ KIỀU NƯƠNG NHÀ TƯỚNG QUÂN GIẢI GIÁP

Chương 1: A Nguyên tìm đến cô mẫu

Avatar Mị Miêu
3,050 Chữ


Trời còn sớm, muôn vàn tinh tú lấp lánh trên cao, ngôi làng nhỏ dưới chân núi chìm trong tĩnh lặng.

Tiếng gà gáy đầu tiên vừa cất lên, A Nguyên giật mình tỉnh giấc sau một cơn ác mộng.

Nàng ngồi dậy, nhìn ra ngoài khung cửa sổ đang hé mở một khe nhỏ.

Chẳng ngoài dự tính, bên ngoài vẫn là một màn đêm đen kịt.

Nàng thu hồi ánh mắt, cúi thấp đầu, đôi tay siết chặt mép chăn, hồi tưởng về giấc mơ vừa rồi.

Trong mơ vẫn là ngày mưa hôm ấy.

A Nguyên lờ mờ nhớ rõ vào ngày mưa đó, tại ngôi miếu Sơn Thần, một nam nhân để trần thân trên, khuôn ngực cường tráng phập phồng còn đọng những giọt nước lấp lánh.

Nam nhân trầm giọng hỏi nàng đã hứa hôn với ai chưa, nhà ở đâu, tên là gì.

Nàng chẳng nhớ nổi mình đã trả lời ra sao, chỉ mang máng cảm thấy khắp người như bị lửa thiêu. Dù bị nước mưa xối ướt nhưng nàng vẫn không thấy chút lạnh nào.

Chỉ khi áp sát vào người nam nhân đó, da thịt kề nhau, A Nguyên mới tìm thấy cảm giác mát lạnh dễ chịu.

Nhưng đó thật ra chẳng phải mơ, mà là chuyện thực sự đã xảy ra vài ngày trước.

Mấy hôm trước, nàng đi giặt đồ vừa về đến cửa, đệ đệ cùng mẹ khác cha bưng tới cho nàng một bát nước trà.

Sau khi A Nguyên uống xong, kế phụ nàng lập tức bảo đệ đệ ra ngoài chơi.

Năm tám tuổi, A Nguyên theo mẫu thân tái giá vào Hà gia. Nàng vốn họ Tô, song vì mẫu thân khăng khăng yêu cầu nên nàng mới đổi theo họ kế phụ, lấy tên là Hà Nguyên.

Kế phụ của A Nguyên là một tú tài góa thê. Hà tú tài vốn nổi tiếng trong vùng là người tính tình hiền lành, nhân hậu. Ông ta chẳng những đối xử cực tốt với thê tử tái giá mà còn yêu thương con riêng của thê tử như con ruột.

Hà tú tài có một đứa nữ nhi với cố thê, chỉ lớn hơn A Nguyên vài tháng.

Nhà người ta thường xem nữ nhi như trâu ngựa. Thế nhưng trong mắt người ngoài, Hà tú tài đối xử với con ruột hay con riêng đều công bằng như nhau, đều tận tâm dạy bảo chữ nghĩa.

Bởi vậy, thiên hạ đều tin rằng Hà tú tài thật lòng coi A Nguyên như con ruột.

Nhưng bấy lâu nay, dù kế phụ đối xử tốt với mình, nàng vẫn cảm thấy bất an vô cùng. Đặc biệt từ năm ngoái, ánh mắt ông ta nhìn nàng luôn khiến nàng thấy khó chịu.

Vì thế, A Nguyên luôn tìm cách tránh mặt kế phụ.

Tuy né tránh nhưng vẫn phải sống dưới cùng một mái nhà.

Hôm ấy, mẫu thân nàng và lão thái thái trong nhà cùng lên trấn, đệ đệ cũng ra ngoài chơi. Trong nhà chỉ còn lại nàng và kế phụ, A Nguyên thấy không thoải mái nên định bụng phơi xong quần áo sẽ sang nhà thẩm thẩm hàng xóm làm chút đồ may vá.

Lúc A Nguyên phơi xong áo quần vào phòng lấy đồ thêu thùa, nàng bỗng cảm thấy khắp người bủn rủn, không chút sức lực.

Trong cơ thể chẳng những như có ngọn lửa thiêu đốt, mà còn như có hàng vạn con kiến đang bò trườn.

A Nguyên vốn thông tuệ, lập tức đoán ra bát nước trà kia có vấn đề.

Nhưng nước trà do đệ đệ bưng tới, nó mới sáu tuổi, sao có thể đưa bát nước có độc cho nàng?

Rất nhanh, A Nguyên đã có câu trả lời.

Đúng lúc này, kế phụ lẻn vào phòng, thốt ra những lời khiến nàng ghê tởm, còn định đè nàng xuống để cưỡng hôn.

Nhân lúc ông ta không đề phòng, A Nguyên dùng trâm cài vạch một đường trên cánh tay ông ta rồi liều mạng tháo chạy khỏi nhà.

Khắp người nóng bừng khiến nàng muốn cởi bỏ xiêm y, nên nàng chẳng dám tìm người cứu giúp.

Huống hồ dân làng vốn luôn thành kiến rằng A Nguyên là hạng người không yên phận, nếu nàng ra ngoài cầu cứu mà có hành động gì sơ sẩy, e rằng sẽ bị miệng đời phỉ nhổ tới chết.

A Nguyên bắt đầu trổ mã từ năm mười ba tuổi, dù nàng có cố tình khom lưng bó ngực thì người ngoài vẫn nhận ra vóc dáng nảy nở của nàng.

Vì A Nguyên có dung mạo thanh tú, thân hình đầy đặn nên nhiều thanh niên trong làng thầm thương trộm nhớ, trong số đó có cả người mà vị tỷ tỷ con riêng của kế phụ thầm thích.

Do ghen ghét, nàng đã đã cùng vài tiểu cô nương trong làng thêu dệt chuyện A Nguyên là kẻ không đoan chính, ngày ngày lượn lờ trong thôn cốt để tìm kiếm một mối hôn sự tốt.

Lời đồn thổi chẳng cần biết thực hư, truyền mãi rồi người ta cũng tin là thật. Do đó, ở trong làng danh tiếng của A Nguyên ngày một xấu đi.

Không ít mụ phụ nhân rảnh rỗi thường xuyên chỉ trỏ, nói xấu sau lưng nàng.

Họ bảo nàng tuổi nhỏ đã biết quyến rũ người khác, lại sở hữu gương mặt và thân hình hồ ly tinh, chắc chắn chuyên đi mồi chài nam nhân.

A Nguyên nghĩ rằng dân làng nhất định chẳng tin lời nàng nói, trái lại còn vu khống nàng không đoan chính nên mới dụ dỗ kế phụ, chuyện này mà truyền ra ngoài thì nàng chẳng còn mặt mũi nào nhìn ai nữa.

Mẫu thân A Nguyên là người nơi khác gả đến, không có mẫu gia làm chỗ dựa, nên mỗi khi nữ nhi bị nhục mạ, bà chỉ biết khuyên con nên nhẫn nhịn. Bà còn bảo với danh tiếng tú tài của kế phụ, nhất định ông ta sẽ tìm cho nàng một mối nhân duyên tốt.

Đến cả mẫu thân cũng không bảo vệ nổi mình, nên A Nguyên chẳng thể trông cậy vào ai khác, thế là nàng chẳng mảy may suy nghĩ mà chạy thẳng lên núi.

Trên núi có một ngôi miếu Sơn Thần nhỏ.

Lúc ấy mây đen kéo đến u ám, trời sắp sửa đổ mưa, chắc hẳn không có ai lên núi, nàng định vào đó lánh nạn chờ cơn phát tình qua đi.

Nàng loạng choạng chạy lên núi, chưa kịp tới miếu thì trời đã đổ mưa xối xả.

Làn nước mưa gột rửa thân thể, lạnh buốt thấu xương nhưng không tài nào dập tắt nổi ngọn lửa khô nóng trong lòng nàng.

Cuối cùng cũng tới được miếu Sơn Thần, lúc này nàng gần như mất đi thần trí vì cơn nóng ran trong người.

Bước vào miếu, trong tầm mắt mờ ảo, nàng thấy một nam nhân cởi trần đang ngồi bên đống lửa hong khô áo quần.

Lúc đó đầu óc A Nguyên rối bời như hồ dán, chẳng biết sao lại lao tới, dựa dẫm vào nam nhân, nhưng ngay lập tức bị hắn thô bạo hất văng ra.

Ngã xuống đất, vài chỗ trên người trầy xước chảy máu, song A Nguyên chẳng cảm thấy đau đớn chút nào. Nàng chỉ biết nức nở khóc thầm, cơ thể không ngừng vặn vẹo.

Dường như nam nhân đã nhận ra sự bất thường của nàng, hắn lập tức lôi nàng ra khỏi miếu Sơn Thần để nàng hứng nước mưa.

Có lẽ hơi lạnh mang lại chút hiệu quả, A Nguyên tỉnh táo đôi chút.

Nhưng rồi nàng cảm thấy từ mũi chảy ra dòng chất lỏng ấm nóng, nhìn xuống thấy dòng máu bị nước mưa pha loãng vương trên tay.

Khôi phục được phần nào ý thức, A Nguyên sợ hãi vô cùng, khóc lóc gào lên rằng mình không muốn chết.

Nam nhân nhíu mày quan sát nàng hồi lâu, cuối cùng mới đưa nàng trở lại trong miếu, trực tiếp dùng áo của mình phủ kín tượng Sơn Thần.

Hắn hỏi nàng tên gì, nhà ở đâu, đã hứa hôn chưa.

A Nguyên lắp bắp trả lời từng câu, duy chỉ có chỗ ở là nàng kiên quyết giấu kín.

A Nguyên lờ mờ hiểu ra ngày hôm đó nam nhân đó không hề chiếm đoạt thân thể mình, nhưng nàng cũng biết rõ bản thân chẳng thể gả cho ai được nữa.

Bị một nam nhân nhìn thấy cơ thể, lại còn bị chạm vào, dù thế nào cũng chẳng còn trong sạch.

Lúc A Nguyên hoàn toàn tỉnh táo đã là sáng sớm hôm sau, nam nhân nọ không có mặt ở đây. Nhưng đồ đạc của hắn vẫn còn, dường như người chỉ vừa ra ngoài.

A Nguyên sợ hãi, vội vã mặc quần áo rồi bỏ chạy.

Nàng từng nghĩ đến chuyện quay về làng cũ tìm mẫu thân, nhưng gặp mẫu thân rồi thì nói gì đây?

Nói kế phụ có ý đồ bất chính với mình sao?

Đã qua một đêm, mọi chuyện sớm bị kế phụ đổi trắng thay đen rồi, nàng trở về nói gì cũng chẳng ai tin.

Từ khi mẫu thân sinh được đệ đệ thì không còn quan tâm đến nàng như trước, lại thường xuyên nhắc nhở rằng Hà gia có ơn với hai mẫu tử họ, phải biết báo đáp. Hơn nữa mẫu thân tin tưởng kế phụ tuyệt đối, ông ta nói gì bà cũng tin theo.

A Nguyên không khỏi nghĩ đến việc từ nhỏ tới lớn bản thân bị kế tỷ bắt nạt, bị Hà thái thái mắng chửi mà mẫu thân chưa bao giờ bênh vực nàng một lời.

Trước đây nàng vốn hiểu rõ, nếu mẫu thân giúp nàng thì nàng càng bị ghét bỏ, cuộc sống của hai mẫu tử ở nhà Hà gia sẽ càng khốn khó hơn.

Nhưng giờ đây nàng nhận ra họ mới là một gia đình, còn nàng hoàn toàn là kẻ ngoài cuộc, hoặc giả chỉ là phận kẻ hầu người hạ để họ sai bảo.

Nghĩ đến đây, A Nguyên thật lòng không dám trở về ngôi nhà đáng sợ ấy nữa.

Nhưng nếu không về nhà, một tiểu cô nương không xu dính túi, lại trói gà không chặt như nàng biết đi đâu về đâu?

Giữa lúc bế tắc, A Nguyên sực nhớ tới cô mẫu của mình. Cô mẫu gả đến Trần gia ở trấn Thanh Thủy, cách làng này khoảng hai ngày đường.

Khi cô mẫu thành thân thì nàng đã bảy tuổi, bắt đầu biết ghi nhớ mọi việc, hiện giờ nàng vẫn còn lưu giữ chút ký ức mông lung.

Lúc phụ thân nàng còn sống, gia đình họ ở rất gần trấn Thanh Thủy.

Sau khi phụ thân mất, nàng mới theo mẫu thân đến làng này.

A Nguyên vốn có trí nhớ tốt nên vẫn nhớ mang máng con đường dẫn tới trấn Thanh Thủy.

Dù không nhớ rõ đường đi nhưng nàng biết rõ trấn ấy nằm ở hướng nào.

Tất nhiên là A Nguyên rất sợ.

Nàng là nữ tử đơn độc, tay không tấc sắt phải đi bộ suốt hai ngày.

Chưa nói đến thú dữ và đói khát, nếu trên đường gặp phải bọn lưu manh hay nam nhân lạ mặt thì rất dễ bị bắt nạt.

Nhưng A Nguyên không muốn quay về Hà gia nữa. Mẫu thân sẽ không đòi lại công bằng cho nàng, nàng chẳng có ai để cậy nhờ, nếu trở về thì phải sống dưới con mắt của gã kế phụ cầm thú kia, thà chết còn hơn.

Đã đến nước này, A Nguyên nghiến răng quyết định lên đường.

Đi suốt hai ngày một đêm, A Nguyên luôn lẩn tránh những nơi đông người.

Ban ngày hễ thấy người là nàng trốn, ban đêm thì tìm một cái cây cao ở bìa rừng để leo lên. Nàng ngồi trên cây run rẩy, kinh hãi tột độ, thấp thỏm chẳng dám nhắm mắt suốt đêm, chờ đến khi trời sáng lại tiếp tục lên đường.

Hai ngày ròng không ngủ, chẳng có gì vào bụng, chỉ uống chút nước cầm hơi, nàng vừa đói vừa mệt.

Cuối cùng, trước khi màn đêm ngày thứ hai buông xuống, nàng cũng tới được trấn Thanh Thuỷ, hỏi thăm người dân mãi mới tìm được nhà của cô mẫu.

Đứng bên ngoài hàng rào của một ngôi nhà, nàng thấy một phụ nhân đang lùa gà vào chuồng giữa sân.

A Nguyên không nhớ rõ mặt cô mẫu lắm, nhưng nàng nhớ trên cổ cô mẫu có một vết bớt, cộng thêm nét mặt quen thuộc, nàng đánh bạo gọi một tiếng "Cô mẫu".

Phụ nhân nghe tiếng ngẩng đầu lên, thấy một cô nương nhếch nhác đứng ngoài hàng rào, bà ngẩn người một lát rồi cười hỏi: "Này tiểu cô nương, cháu gọi ai là cô mẫu thế?"

A Nguyên rụt rè đáp: "Cô mẫu, cháu là A Nguyên đây."

Sắc mặt phụ nhân khựng lại, cây sào tre trên tay rơi xuống đất "loảng xoảng".

Bà vội vàng bước nhanh ra khỏi cổng, nhìn cô nương trước mắt với vẻ không tin nổi.

Từ khi A Nguyên chào đời, phần lớn thời gian đều do cô mẫu chăm sóc nên tình cảm giữa họ vô cùng sâu đậm.

Có lẽ vì nuôi nấng A Nguyên từ nhỏ nên Vân nương luôn yêu thương đứa cháu này hết mực.

Hồi đó biết tin A Nguyên phải theo mẫu thân tái giá, bà còn về thăm một lần, tặng cho nàng một bộ quần áo mới.

Cách biệt sáu bảy năm mới gặp lại, hai người ôm nhau khóc nức nở hồi lâu.

Vân nương mắng cháu mình liều lĩnh, quãng đường xa xôi như vậy mà dám đi một mình, không sợ xảy ra chuyện gì dọc đường sao.

Nhưng bà cũng hiểu A Nguyên lặn lội đến tìm mình chắc chắn là có chuyện hệ trọng, nên không đành lòng trách mắng thêm.

Vân nương dọn cơm cho A Nguyên ăn, còn đun nước cho nàng tắm rửa và đưa cho nàng một bộ đồ sạch sẽ.

Sau đó Vân nương hỏi vì sao nàng lại đến đây, có phải làng họ xảy ra chuyện gì rồi không.

A Nguyên ấp úng không chịu nói, cuối cùng Vân nương dọa sẽ đưa nàng về nhà đòi lại công bằng thì nàng mới chậm chạp kể ra mọi chuyện bất chính của kế phụ.

Vân nương vốn hiền lành mà nghe xong cũng tức giận chửi bới Hà tú tài là đồ cầm thú, còn không bằng lợn chó.

Nghĩ bấy lâu nay A Nguyên phải chịu khổ ở Hà gia, bà nhất quyết không để nàng quay về nữa.

Bà dặn dò nàng nếu ai có hỏi thì cứ bảo mình là cháu ngoại, phụ mẫu mất sớm, không còn người thân nên đến nương nhờ di mẫu*.

*Vai vế là dì

Vân nương có mấy tỷ muội, có người gả đi xa nhiều năm không gặp mặt, lời bà nói sẽ không khiến nhà phu quân nghi ngờ.

Tuy Vân nương hiền hậu nhưng người nhà phu quân Trần gia của bà lại chẳng dễ chung sống.

Trần thái thái vốn là kẻ chua ngoa, khắc nghiệt. Mấy năm nay Vân nương liên tục sinh ba đứa nữ nhi nên bà ta chẳng bao giờ nể mặt, hễ mở miệng là mắng nhiếc chửi rủa tức phụ*.

*Con dâu

Từ khi A Nguyên đến, Trần thái thái thấy có thêm một miệng ăn thì càng chửi bới Vân nương thậm tệ hơn.

Nếu không vì mấy ngày qua A Nguyên siêng năng giúp việc nhà thì có lẽ bà già ấy đã mang ghế ra ngồi giữa cửa mà mắng rồi.

A Nguyên cũng chẳng phải hạng người mặt dày, nên mấy ngày nay nàng luôn muốn tìm việc làm trên trấn, tốt nhất là việc có chỗ ở lại.

Dẫu có đi làm nha hoàn cho người ta còn tốt hơn vạn lần quay về cái hang thú dữ Hà gia kia.

Chỉ là trên trấn rất ít nơi tuyển nữ tử. Các tửu lầu có tuyển người rửa bát nhưng vừa thấy A Nguyên da dẻ trắng trẻo, chẳng giống người chịu được việc nặng nhọc nên họ nhất quyết không nhận.

Hôm qua Vân nương nghe ngóng được tiệm thêu trên trấn đang tuyển tú nương, bà sực nhớ mẫu thân A Nguyên có tay nghề thêu thùa rất giỏi nên đoán rằng tài nghệ của nàng cũng không kém, định bụng hôm nay sẽ dẫn nàng tới tiệm thêu thi thố thử xem.

Nghĩ tới chuyện hôm nay phải lên trấn, A Nguyên liếc nhìn biểu muội đang ngủ bên cạnh rồi nhẹ nhàng bước xuống giường.

Trời vẫn còn tối, người nhà Trần gia ngoại trừ Vân nương phải dậy nấu bữa sáng thì ai nấy đều chưa thức giấc.

A Nguyên chải chuốt đơn giản rồi xuống bếp phụ cô mẫu làm bữa sáng.

Bữa sáng sắp sửa xong xuôi thì ngoài sân đã vang lên tiếng mắng mỏ chua ngoa của Trần thái thái: "Không sinh được con trai đã đành, đến bữa sáng cũng lề mề thế này, Trần gia đúng là vô phúc mới rước hạng nữ nhân vô dụng như ngươi về. Đã vô tích sự lại còn rước thêm một miệng ăn về đây, sao mà giỏi thế không biết!"

Những lời khó nghe lọt vào phòng bếp, sắc mặt Vân nương lộ vẻ ngượng ngùng, bà vội nắm lấy tay cháu: "Cháu đừng để ý lời bà ấy nói, cứ yên tâm ở lại, chờ tìm được việc rồi tính sau."

A Nguyên khẽ "vâng" một tiếng, nhưng trong lòng nàng hiểu rõ nỗi khổ của cô mẫu, càng nôn nóng muốn tìm được công việc để vượt qua cơn hoạn nạn này.

5 lượt thích

Bình Luận

Hanh
11 giờ trước
Điền văn nhẹ nhàng, văn phong dễ chịu! Nu 9 tuổi thơ khổ quá !
Voicoi
12 giờ trước
Lại có truyện mới để đọc rồi.